Thứ Hai, 25 tháng 4, 2011

Những biểu hiện của sự Ngu Ngốc

Khái niệm ngu ngốc, đần độn có thể hiểu là sự ngược lại của khái niệm sáng dạ hoặc nhanh trí (cả hai đần và sáng dạ đều mang tính bẩm sinh).
 
Theo Từ Điển Bách Khoa Toàn Thư Mayer:  

"Ngu ngốc có nghĩa là không có khả năng rút ra những kết luận đúng đắn từ các cảm nhận"

Từ Ngu Ngốc thường được hiểu là một cái gì đó có tính chất tiêu cực. Biểu hiện của sự ngu ngốc gần như luôn được coi là sự thiếu hoặc giảm sút về trí tuệ (Intelligence), và được do bằng chỉ số thông minh (IQ).

Nhìn chung không phải lúc nào cũng có thể đánh giá chính xác được đặc điểm này ở con người. 

Trong cuộc sống thường ngày sự ngu ngốc được xếp cùng với đầu óc không bình thường. Khó có thể biết đâu là ranh giới giữa các trạng thái ngu ngốc, hành vi thiếu suy nghĩ và và trí thông minh trung bình. Ngay cả những người có chỉ số thông minh cao trong những hoàn cảnh nhất định hoàn toàn có thể có những hành vi rất ngu ngốc, bởi thông minh không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với khôn ngoan, sáng suốt. Ngược lại có người hiểu rộng, có trí thông minh không cao theo nghĩa y tế, nhưng hoàn toàn không ngu. Về hiện tượng này ta có thể thấy qua câu nói nổi tiếng của Socrates: "Tôi biết rằng tôi không biết gì cả". Câu nói đã diễn đạt đúng bản chất của sự việc rằng kiến thức là vô tận và sự ngu ngốc là đặc tính có trong tất cả mọi người.

Trong tranh luận, trong cuộc sống ta luôn thấy có hiện tựơng người này chê người kia là dốt. Cho dù sự ngu dốt như trên đã nói, nó tồn tại trong mỗi con người nhưng thường khi vào việc, người ta hay quên mất điều này. Để nhận diện được phần nào sự ngu dốt tôi liệt kê dưới đây một vài câu của nhiều người khác nhau, hy vọng rằng qua đó khi nói về sự ngu dốt của người khác chúng ta sẽ khoan dung hơn, sẽ chính xác và dễ tiếp thu hơn.

Nếu các bạn có thời gian và hứng thú, hãy nối dài danh mục này. Sẽ càng có giá trị nếu điều bạn viết chính là của bạn.

- Có hai thứ được coi là vô tận: Vũ trụ và sự ngu dốt của con người. Về phần vũ trụ thì tôi chưa tin lắm. (Albert Einstein)

- Người ta chỉ bị coi là ngu khi có hành động ngu. (Film Forest Gump)

- Cho dù có 50 triệu người nói ra những điều ngu ngốc, thì cũng chỉ là sự ngu ngốc. (Antole France)

- Những kẻ ngu ngốc không hề chế ra thuốc súng, nhưng bắn bằng thuốc súng đó. (Gerhard Uhlenbruck)

- Ngu ngốc cũng là một năng khiếu tự nhiên. (Wilhelm Busch)

- Không nhận biết được các mối quan hệ hiện tại của sự vật là ngu ngốc bậc nhất, nêu ra những quan hệ mà thực chất chẳng hề tồn tại là sự ngu ngốc bậc hai. (Rudi Wormser)

- Quyền ngu ngốc là sự đảm bảo cho phát triển nhân cách. (Mark Twain)

- Ngu ngốc là loại bệnh đặc biệt nhất trong tất cả các loại bệnh, bởi chỉ người không mắc bệnh mới khốn khổ vì nó.(Paul-Henri Spaak)

- Ngu ngốc không phải là do thiếu kiến thức, không phải là do không muốn học mà do tin rằng đã biết hết tất cả. (Anita Joachim-Daniel)

- Lười biếng là sự ngu ngốc của cơ thể, ngu ngốc là sự lười biếng của bộ não. (Johann Gottrfied Seume)

- Ngược lại với dịch hạch, ngu ngốc không phải là một bệnh do đó đừng hy vọng có thể hoàn toàn diệt trừ nó.(Norbert Wiener)

- Bệnh dịch lớn nhất và nguy hiểm nhất của mọi thời đại chính là sự ngu ngốc.(Ernst Probst)

- Một dân tộc dám vận dụng lí trí của chính mình thì dân chủ đối với họ là nhà nước tốt nhất trong tất cả các dạng nhà nước. Một dân tộc bị ngu hóa thì ngược lại coi đó là dạng nhà nước xấu nhất. (Andreas Tenzer)

- Đầu rỗng thì dễ gật.(Vô danh)

- Ngay cả một người thông minh nhất cũng có thể rất nhanh chóng trở thành bò, nếu như ngày qua ngày anh ta chẳng nhìn thấy gì hết ngoài những con bò xung quanh mình.

- Kẻ càng ngu, càng hẹp hòi, càng đểu giả thì càng dễ dàng chiếm được vị trí lãnh đạo, với điều kiện hắn được trao vũ khí còn những người khác thì bị tước đoạt.

- Thật là thoải mái nếu như không phải suy nghĩ.

- Cho dù dũng cảm là một đức tính lớn, nhưng trong nhiều trường hợp đó cũng chỉ là biểu hiện của sự ngu ngốc bẩm sinh hết phương chữa trị.

- Những người lãnh đạo đầu càng nhỏ càng có xu hướng thích dùng bạo lực để ngăn cản những người đối lập.

- Ai dám đặt câu hỏi, chỉ bị ngu năm phút. Ai không dám đặt câu hỏi sẽ bị ngu cả đời.

- Cả tin là khuyết điểm lớn nhất của trí thức.

- Một đặc tính của kẻ ngu là họ có thể tự hào vô giới hạn về bản thân.

- Bẩm sinh con người có xu hướng thiên về sự ngu ngốc.

- Chỉ có kẻ ngu mới học bằng kinh nghiệm, người khôn học bằng kinh nghiệm của người khác.

- Các biểu hiện thường thấy của sự ngu ngốc: Hiếu danh - Tàn nhẫn - Ích kỷ - Đãng trí - Nhẹ dạ - Ngang bướng - Điên loạn - Cuồng tín.

- Những ai biết lợi dụng sức mạnh của sự ngu ngốc, người đó sẽ lên cao.

- Vua của những thằng ngu thường có nhiều quần thần nhất.

- Kẻ không học, sẽ không quên bao giờ.

- Đỉnh cao của lòng khoan dung là sự chịu đựng những kẻ ngu.

- Mắc sai lầm không phải là ngu, chỉ không học từ những sai lầm đó mới là ngu.

- Một người to lớn nhất trong đám người lùn thì vẫn chưa phải là người vĩ đại, còn một kẻ thông minh nhất trong đám ngu ngốc - vẫn chưa phải là nhà thông thái.

Thói ngụy biện ở người Việt

Tranh luận trên các diễn đàn công cộng là một hình thức trao đổi ý kiến không thể thiếu được trong một xã hội văn minh. Ở nhiều nước, lưu lượng của những tranh luận cởi mở và nghiêm túc được xem là một dấu hiệu của một xã hội lành mạnh.
 
Ở các nước phương Tây, hầu như ngày nào báo chí cũng có những bài của những cây bỉnh bút tranh luận về một vấn đề nóng nào đó. Trên tivi cũng có những cuộc tranh luận trực tiếp giữa hai hay nhiều người về những chủ đề từ “đại sự” đến những vấn đề tưởng như nhỏ nhất. Trong các hội nghị khoa học, trước một vấn đề còn trong vòng nghi vấn, người ta cũng có những chuyên gia tranh luận dưới dạng những bài giảng khoa học.
Nhưng thế nào là tranh luận nghiêm túc? Nói một cách ngắn gọn, cũng như trong một cuộc đấu võ, một tranh luận nghiêm túc là một cuộc tranh luận có qui tắc, mà trong đó người tham gia không được, hay cần phải tránh, phạm luật chơi. Những qui tắc chung và căn bản là người tham gia chỉ phát biểu bằng cách vận dụng những lí lẽ logic, với thái độ thành thật và cởi mở, chứ không phát biểu theo cảm tính, lười biếng, hay biểu hiện một sự thiển cận, đầu óc hẹp hòi.

Để đạt những yêu cầu này, người tranh luận nghiêm túc trước khi phát biểu hay đề xuất ý kiến, đưa ra lời bình phẩm của mình, cần phải xem xét tất cả các trường hợp khả dĩ, phải cân nhắc những quan điểm và những cách giải thích khác nhau, phải đánh giá ảnh hưởng của sự chủ quan và cảm tính, phải tập trung vào việc tìm sự thật hơn là muốn mình đúng, phải sẵn sàng chấp nhận những quan điểm không được nhiều người ưa chuộng, và phải ý thức được định kiến và chủ quan của chính mình. Khi tranh luận phải nhất quán là chỉ xoay quanh chủ đề bàn luận, luận điểm bàn luận chứ không đi lạc đề. Không công kích vào cá nhân và nhân thân của người tham gia tranh luận.

Đó là những đòi hỏi khó khăn cho một cuộc tranh luận nghiêm túc có ý nghĩa, và không phải ai cũng có khả năng đạt được những yêu cầu này, nhất là đối với người Việt vốn chưa quan với văn hóa tranh luận. Do đó, không mấy ai ngạc nhiên khi thấy có quá nhiều trường hợp chất lượng của những cuộc tranh luận giữa người Việt rất thấp. Chỉ cần xem qua những cái-gọi-là “tranh luận” trên các diễn đàn báo chí (và nhất là các “chat room” hay blog), người ta có thể thấy đó không phải là tranh luận, mà là những cuộc đụng độ giũa các cá nhân tham gia tranh luận, những cuộc chửi bới, chẳng có lí luận của người tranh luận. Ngoài ra, đối với một số người tham gia bình luận về một câu chuyện nào đó là một cuộc dàn xếp, một sự đóng kịch, nhằm tung hỏa mù hoặc lên lớp, hoặc a dua theo đám đông. Đó là những kịch bản ngớ ngẩn đến tội nghiệp. Ngớ ngẩn là vì người xuất hiện chẳng nói được gì cho đầy đủ, mà cũng chẳng phân tích một vấn đề gì cho đến nơi đến chốn.

Thật vậy, rất nhiều trường hợp, những cuộc tranh luận giữa người Việt chỉ là những cuộc chửi lộn, mà trong đó người ta tha hồ vung vít, ném liệng vốn liếng chữ nghĩa qua lại một cách hỗn độn, mà chẳng cần để ý đến logic hay các nguyên tắc của tranh luận là gì. Hơn nữa, rất dễ dàng nhận thấy rằng trong các cuộc tranh luận đó người ta nhắm vào mục tiêu là nhân thân, cá nhân của người tranh luận chứ không nhắm vào quan điểm và lí lẽ của người đó. Thay vì tranh luận thẳng vào vấn đề, người ta tìm cách gắn cho đối phương một nhãn hiệu, và từ đó làm lu mờ đi quan điểm của họ. Trong hầu như những tranh luận, nhiều người cố tìm hay tạo cho mình một vị trí đạo cao đức trọng cả bằng cách gắn cho đối phương những danh từ và tính từ mang tính miệt thị, một thủ đoạn có khả năng làm cho một cuộc tranh luận trở nên một cuộc ẩu đã ngôn từ đinh tai nhức óc thay vì là một trao đổi khoa học.

Thực ra, đó là một hình thức ngụy biện, một lỗi lầm cơ bản nhưng nghiêm trọng trong tranh luận. Nói một cách đơn giản, ngụy biện là những nhầm lẫn trong lí luận và suy luận. Ngụy biện khác với logic. Logic, nói một cách ngắn gọn trong trường hợp này, là những qui ước quản lí tính nhất quán trong việc sử dụng ngôn ngữ. Giới triết học Tây phương đã bỏ khá nhiều công sức để phân biệt thế nào là logic và thế nào là ngụy biện. Aristotle có lẽ là một nhà logic học đầu tiên có công phát triển các qui tắc và hệ thống suy luận. Trong quá trình làm việc, ông phát hiện ra nhiều lỗi lầm mà sau này người ta quen gọi là những “ngụy biện.” Mặc dù Aristotle là một nhà nhà logic học đầu tiên có công liệt kê và phân loại những loại ngụy biện, thầy của ông (Plato) mới xứng đáng được vinh danh như là một nhà triết học đầu tiên đã có công sưu tầm những ví dụ về ngụy biện. Kể từ khi Plato và Aristotle, đã có khá nhiều nhà triết học và logic học như John Locke, John Stuart Mill, Jeremy Bentham, và Arthur Schopenhauer cũng có nhiều cống hiến quan trọng trong việc nghiên cứu về ngụy biện.
Điều đáng chú ý là những lỗi lầm về ngụy biện ở người Việt lại hay thấy trong giới có học. Chỉ cần điểm qua báo chí, websites, blog, v.v... chúng ta dễ dàng thấy rất nhiều cái-gọi-là "tranh luận" thật ra chỉ là ngụy biện. Tuy nhiên, nhiều người vẫn chưa biết đó là những ngụy biện, mà thậm chí còn hết lời khen ngợi kẻ ngụy biện là ... uyên bác! Điều này cho thấy trong những người Việt học cũng có người rất lười biếng suy nghĩ và chẳng phân biệt được thật và giả, không có khả năng nhận dạng được ngụy biện. Phải ghi nhận một điều là internet đã rất tuyệt vời, vì qua những "tranh luận" và chửi bới của những kẻ tham gia trên internet, chúng ta biết được bộ mặt xấu xí đằng sau những người mang nhãn mác "trí thức" hay "có học". Những kẻ này tương đối nguy hiểm, vì với cái nhãn mác "có học" đó, họ có cơ hội làm lũng đoạn xã hội và trở thành những con vi khuẩn làm nhiễm trùng nền học thuật nước nhà. Do đó, cần phải giúp họ nhận ra đâu là ngụy biện và đâu là logic.
Thực ra, nhận dạng ngụy biện không phải là một việc làm khó khăn. Nói chung chỉ với một lương năng bình dân, người ta có thể phân biệt một phát biểu mang tính ngụy biện với một phát biểu logic. Tuy nhiên, cũng có nhiều dạng thức ngụy biện mà vẻ bề ngoài hay mới nghe qua thì rất logic, nhưng thực chất là phi logic. Những loại ngụy biện núp dưới hình thức “khoa học” này không dễ nhận dạng nếu người đối thoại thiếu kiến thức về logic học hay thờ ơ với lý lẽ. Do đó, một điều quan trọng trong tranh luận là cần phải phát hiện và nhận dạng những hình thức ngụy biện, và quan trọng hơn, cần phải hiểu tại sao chúng sai. Có thể phân loại ngụy biện thành nhiều nhóm khác nhau liên quan đến việc đánh lạc vấn đề, lợi dụng cảm tính, thay đổi chủ đề, nhầm lẫn trong thuật qui nạp, lý luận nhập nhằng, phi logic, và sai phạm trù. Trong khuôn khổ giới hạn, người viết bài này không có tham vọng trình bày tất cả những loại ngụy biện một cách chi tiết (vì việc này đã được hệ thống hóa trong nhiều sách về logic học), mà chỉ muốn liệt kê ra những loại ngụy biện thường hay gặp trong báo chí và truyền thông, hầu giúp bạn đọc có thể phân biệt giữa chân và giả.

Liệt kê sau đây là một loạt những ngụy biện phổ biến hay thấy ở người Việt. Những ngụy biện này có thể phân thành 7 nhóm như sau:
• Đánh tráo chủ đề
• Lợi dụng cảm tính và đám đông
• Làm lạc hướng vấn đề
• Qui nạp sai
• Nhập nhằng đánh lận con đen
• Phi logic
• Các nhầm lẫn khác
Nhóm 1. Đánh tráo chủ đề
1. Công kích cá nhân (ad hominem). Đây là một loại ngụy biện phổ biến nhất, thấp kém nhất, nguy hiểm nhất, nhưng có “công hiệu” nhất, vì nó tấn công vào cá nhân của người tranh luận, và tìm cách trốn tránh luận điểm của cá nhân đó. Hình thức ngụy biện này thường xuất hiện dưới dạng: Ông A phát biểu về một vấn đề; ông B tấn công vào cá nhân ông A, và làm cho người ta nghi ngờ luận điểm của ông A. Tuy nhiên, có thể không có mối liên hệ nào giữa cá nhân và luận điểm của ông A.

Có hai hình thức thuộc loại ngụy biện này. Thứ nhất là dưới hình thức sỉ nhục, hay chửi rủa. Khi bất đồng ý kiến, người ngụy biện chỉ việc công kích vào cá nhân của người phát biểu. Chẳng hạn như “Ông nói là những người vô thần có đạo đức, vậy mà chính ông là người từng li dị với vợ con,” hay “Ông là người làm kinh tế, không biết gì về khoa học, mà nói chuyện khoa học”. Đây là một ngụy biện, bởi vì sự thật của phát biểu không tùy thuộc vào cá nhân của người phát biểu, mà là logic của lời phát biểu. Cũng nằm trong loại ngụy biện này là thói dùng một đặc điểm của một vật thể nào đó để ứng dụng cho một cá nhân hay một vật thể khác. Ví dụ: “Anh học của Tây có vài chữ mà đã quay lại chửi bới đồng nghiệp à? Anh là con công cháu cha, anh không hiểu gì về sự nghèo khổ của chúng tôi.”

2. Lợi dụng quyền lực (ad verecundiam). Đây là loại ngụy biện dùng những nhân vật nổi tiếng hay được nhiều người ái mộ để tìm sự ủng hộ cho luận điểm của mình. Chẳng hạn như “Isaac Newton là một thiên tài, và ông tin vào Thượng đế,” làm như ông Newton là người có thẩm quyền để chúng ta tin vào Thượng đế. Thẩm quyền không thuyết phục được ai; chỉ có sự thật, lí lẽ và logic mới quan trọng và có khả năng thuyết phục.

3. Lợi dụng nặc danh. Trong trường hợp này, người ngụy biện không nêu danh tính người có thẩm quyền, và vì không ai biết tên người có thẩm quyền nên không ai có thể kiểm chứng sự chính xác của lời phát biểu. Một loại ngụy biện khác có quan hệ với loại này là dùng lời đồn đại để làm cơ sở lập luận. Giới công an hay sử dụng ngụy biện này, ví dụ như “Một viên chức tình báo cho biết chính anh từng hoạt động cho địch.”

4. Lợi dụng tác phong. Loại ngụy biện này dùng tác phong hay cách làm việc hay một đặc tính nào đó của đối tượng để cố thuyết phục về tính hợp lí của phát biểu. Tiêu biểu cho loại ngụy biện này là những phát biểu như “Nixon thất cử vì ông ta thường hay ra mồ hôi trên trán,” hay “Tại sao anh không nghe theo lời khuyên của anh chàng ăn mặc bảnh bao đó?” Thực ra, “bảnh bao” và “mồ hôi trên trán” chẳng có dính dáng gì đến vấn đề đang bàn thảo.

5. Luận điệu cá trích. Loại ngụy biện này thường hay được ứng dụng khi một người nào đó đưa vào những phát biểu không dính dáng gì đến vấn đề đang tranh luận, nhằm mục đích đánh lạc hướng vấn đề. Ví dụ: “Anh có thể nói rằng tử hình là một hình thức không có hiệu quả trong việc chống lại tội phạm, nhưng còn nạn nhân của tội phạm thì sao? Gia đình của nạn nhân sẽ nghĩ gì khi họ thấy tên sát nhân người thân của họ bị giam giữ trong nhà tù bằng đồng tiền của chính họ. Họ có nên nuôi dưỡng những tên sát nhân như thế không?”

6. Luận điệu ngược ngạo. Bằng chứng luôn luôn là gánh nặng của người phát biểu. Do đó, tìm cách chuyển gánh nặng đó cho một người khác là một thủ đoạn của những người ngụy biện. Chẳng hạn như trong câu này “Anh nói rằng ăn nhiều mỡ không liên quan đến cholesterol, nhưng anh có thể chứng minh điều đó không?” Đáng lẽ người phát biểu phải chứng minh, nhưng công việc đó lại được chuyển cho người đối thoại!

Nhóm 2. Lợi dụng cảm tính và đám đông
7. Dựa vào bạo lực (ad baculum). Ngụy biện dựa vào bạo lực thực chất là một sự đe dọa, nhằm mục đích gây áp lực cho người đối thoại phải chấp nhận một kết luận nào đó. Loại ngụy biện này thưởng được giới chính khách dùng, và có thể tóm gọn bằng một câu “chân lí thuộc về kẻ mạnh”. Sự đe dọa không hẳn chỉ xuất phát từ người phát biểu, mà có thể từ một người khác. Ví dụ như “Những ai không tin vào chính sách của Nhà nước sẽ phải trả giá đắt”, hay “Được rồi, tôi đã biết số điện thoại của anh và biết anh đang ở đâu. À, tôi có nói cho anh biết là tôi mới mua một cây súng ngắn chưa nhỉ?”

8. Lợi dụng lòng thương hại (ad misericordiam). Đây là một loại ngụy biện dựa vào lòng trắc ẩn của người đối thoại để người đối thoại chấp nhận lí lẽ của mình. Ví dụ như “Anh ấy không có giết người bằng búa. Làm ơn đừng tuyên án anh ấy có tội, anh ấy đang trải qua một giai đoạn khủng hoảng tinh thần,” hay “Tôi hi vọng anh sẽ chấp nhận đề nghị này, chúng ta đã tiêu ra ba tháng nay để bàn rồi đấy.”

9. Lợi dụng hậu quả (ad consequentiam). Ngụy biện loại này thường được biểu hiện qua cách phát biểu “A hàm ý B, B là sự thật, do đó A là sự thật”. Ví dụ: “Nếu vũ trụ được một đấng chí tôn thượng đế tạo nên, chúng ta có thể thấy những hiện tượng được tổ chức một cách thứ tự. Và hiện tượng chung quanh chúng ta quả rất thứ tự, vậy đấng chí tôn thượng đế chính là người tạo nên vũ trụ,” hay “Anh phải tin vào Đảng Cộng hòa, chứ nếu không cuộc đời này sẽ chẳng có ý nghĩa” (hay là nói một cách ngược lại: cuộc sống này chẳng có ý nghĩa gì nếu không có Đảng cộng hòa!)

10. Lạm dụng chữ nghĩa. Đây là một loại ngụy biện dựa vào dùng những chữ mang cảm tính cao để gắn một giá trị đạo đức vào một đề nghị hay một câu phát biểu. Chẳng hạn như trong câu “Bất cứ một người có lương tri nào cũng phải đồng ý rằng về Việt Nam ăn Tết là làm lợi cho cộng sản,” chữ “lương tri” được cài vào nhằm cho người đối thoại phải nghiêng theo những người có lương tri.

11. Dựa vào quần chúng (ad numerum). Loại ngụy biện này tin rằng nếu có nhiều người ủng hộ một đề nghị nào đó, thì đề nghị đó phải đúng. Ví dụ như “Đại đa số người dân trong cộng đồng ủng hộ ông Minh, vậy phát biểu của ông Minh ắt phải đúng.”

Nhóm 3. Làm lạc hướng vấn đề
12. Lí lẽ chẻ đôi. Loại ngụy biện này thường phân định một vấn đề thành hai giá trị: trắng và đen, bạn và thù, có và không, v.v.. dù trong thực tế, có hơn hai lựa chọn. Chẳng hạn như “Hoặc là anh hợp tác với tôi hay là anh chống tôi, anh chọn hướng nào, yes hay là no?”

13. Lí lẽ ngờ nghệch (ad ignorantiam). Loại ngụy biện này, như tên gọi ám chỉ, xuất phát từ sự ngớ ngẩn. Một trong những cách nói thông thường nhất trong loại ngụy biện này mà giới ngụy biện hay dùng là nếu một điều gì đó chưa được chứng minh là sai (hay giả) thì điều đó là đúng (hay thật). Ví dụ: “Bởi vì các nhà khoa học chưa chứng minh dioxin có thể gây ra dị thai, do đó dioxin không thể gây ra dị thai,” hay kiểu lí luận của “nền kinh tế phát triển và xã hội ổn định mấy năm nay, không có lý do gì phải cần đến dân chủ”.

14. Lí luận lươn trạch. Loại ngụy biện này cho rằng nếu một sự kiện xảy ra, các sự kiện có hại khác sẽ xảy ra. Chẳng hạn như “Nếu chúng ta hợp pháp hóa cần sa, công chúng sẽ bắt đầu hút cần sa, và chúng ta cũng sẽ phải hợp pháp hóa á phiện. Rồi chúng ta sẽ là một quốc gia với những người ăn bám vào xã hội. Do đó, chúng ta không thể hợp pháp hóa á phiện”. Hay một đoạn ví dụ khác: “Tiếc thay một cuộc cải cách về kinh tế, bình bị, tài chánh, xã hội, nông nghiệp như vậy, đang trên đường thành công rực rỡ: bị tan vỡ, bị huỷ bỏ chỉ vì tham vọng đánh Đại việt của Vương An Thạch. Mà đau đớn biết bao, khi người phá vỡ chỉ là một thiếu phụ Việt ở tuổi ba mươi. Giá như Thạch không chủ trương Nam xâm, chỉ cần mười năm nữa, toàn bộ xã hội Trung quốc thay đổi; rồi với cái đà đó, thì Trung quốc sẽ là nước hùng mạnh vô song, e rằng cứ muôn đời mặt trời vẫn nở phương Đông chứ không ngả về Tây như hồi thế kỉ 18 cho đến nay bao giờ.”

15. Mệnh đề rời rạc. Đây là loại ngụy biện dùng hai (hay nhiều hơn hai) mệnh đề chẳng dính dáng gì với nhau để làm thành một phát biểu hay kết luận. Ví dụ: “Anh ủng hộ tự do dân chủ và quyền mang vũ khí hay không?” hay “Anh đã ngưng làm ăn trái phép chưa?” Câu hỏi sau thực ra hỏi hai vấn đề “Anh từng làm ăn trái phép?” và “Anh đã ngừng hoạt động hay chưa?”

16. Đơn giản hóa. Đây là một loại ngụy biện mà người phát biểu cố tình biến một quan niệm trừu tượng thành một điều cụ thể để bắt lấy thế thượng phong trong đối thoại (nhưng là ngụy biện). Ví dụ: “Tôi để ý thấy anh mô tả ông ta là một người quỉ quyệt. Vậy tôi hỏi anh cái “quỉ quyệt” đó nó nằm ở đâu trong bộ não? Anh không chỉ ra được cho tôi; do đó, tôi có thể nói cái quỉ quyệt không có thực.”

Nhóm 4. Qui nạp sai
17. Khái quát hóa vội vã. Loại ngụy biện này cũng khá phổ biến. Nó dùng một ví dụ hay trường hợp nhỏ và từ đó khái quát hóa cho một cộng đồng. Chẳng hạn như “Ông ấy là một tay đạo đức giả. Do đó, các bạn bè của ông ấy cũng giả dối.”

18. Khái quát hóa không đúng chỗ. Đây là loại ngụy biện mà người sử dụng chúng thường áp dụng một qui luật chung cho một tình huống hay một cá nhân. Chẳng hạn như “Người cộng sản là vô thần. Anh là người theo chủ nghĩa cộng sản, vậy anh chắc chắn là một người vô thần.”

19. Kéo dài tính tương đồng. Trong loại ngụy biện này, người dùng nó đề nghị một điều lệ chung chung, rồi áp dụng nó cho mọi trường hợp và cá nhân. Ví dụ: “Tôi tin rằng chống luật pháp bằng cách phạm luật pháp là một điều sai trái”, hay “Nhưng quan điểm đó ghê tởm lắm, vì nó ám chỉ rằng anh sẽ không ủng hộ tôi,” hay “Anh muốn nói rằng luật về mật mã cũng có tầm quan trọng tương đương với phong trào giải phóng sao? Sao anh dám nói thế?”

20. Lí lẽ quanh co. Loại ngụy biện này thường luẩn quẩn trong vài giả định và kết luận. Chẳng hạn như “Những người đồng tính luyến ái nhất định không thể nắm chính quyền. Do đó, phải tống khứ những viên chức chính phủ đồng tính luyến ái. Vì thế, những người đồng tính luyến ái sẽ làm mọi cách để dấu diếm hành tung của họ, và họ có nguy cơ bị tống tiền. Do vậy, những người đồng tính luyến ái không được giữa chức vụ gì trong chính phủ.” Tức là trong một lí giải như thế, cả hai giả thuyết và kết luận đều giống nhau.

21. Đảo ngược điều kiện. Loại ngụy biện này thường được biểu hiện qua hình thức “Nếu A xảy ra thì B sẽ xảy ra, do đó, nếu B xảy ra thì A sẽ xảy ra.” Ví dụ: “Nếu tiêu chuẩn giáo dục bị hạ thấp, chất lượng tranh luận sẽ bị tồi đi. Do đó, nếu chúng ta thấy chất lượng tranh luận suy đồi trong những năm sắp đến, thì điều đó cho thấy tiêu chuẩn giáo dục của ta bị xuống cấp.”

22. Lợi dụng rủi ro. Ngụy biện này thường dùng một qui luật chung và áp dụng nó cho một trường hợp cá biệt. Ví dụ: “Luật giao thông không cho anh chạy quá 50 km/h. Cho dù cha anh sắp chết anh cũng không được chạy quá tốc độ đó.”

23. Lợi dụng trường hợp cá biệt. Ngụy biện này thường dùng một trường hợp cá biệt để đem ra ứng dụng cho một đám đông. Ví dụ: “Chúng ta cho phép bệnh nhân sắp chết dùng á phiện, chúng ta nên cho phép mọi người dùng á phiện.”

24. Kết luận lạc đề. Loại ngụy biện này thường xuất hiện khi một kết luận chẳng dính dáng gì đến lí lẽ mà người biện luận trình bày. Một ví dụ tiêu biểu cho trường hợp ngụy biện này là: “Độ nhiễm arsenic trong nước ở Việt Nam chưa cao và còn trong mức độ cho phép. Dữ kiện của Bangladesh cho thấy tình trạng nhiễm arsenic ở Việt Nam rất trầm trọng.”

25. Ngụy biện rơm. Loại ngụy biện này cố tình xuyên tạc, bóp méo quan điểm hay phát biểu của người khác, để làm luận điểm tấn công. Đây là một ngụy biện, vì nó không đương đầu với cái lí lẽ đang bàn. Chẳng hạn như: “Chúng ta nên ủng hộ chế độ cưỡng bách quân dịch. Người ta không thích tòng quân vì họ không muốn cuộc sống bị đảo lộn. Nhưng họ cần nhận thức rằng có nhiều điều quan trọng hơn tiện nghi trong cuộc sống.”

Nhóm 5. Nguyên nhân giả tạo
26. “Post hoc”. Loại ngụy biện này phát biểu rằng hai sự kiện xảy ra, một trước và một sau, có quan hệ với nhau như nguyên nhân và hậu quả. Ví dụ: “Liên Xô sụp đổ sau khi nhà nước theo chủ nghĩa vô thần. Do đó, chúng ta phải từ bỏ chủ nghĩa vô thần để khỏi bị suy sụp.”

27. Ảnh hưởng liên đới. Một sự kiện được cho là có ảnh hưởng đến một sự kiện khác, nhưng thực chất thì cả hai sự kiện đều có cùng một nguyên nhân. Đây cũng chính là một trường hợp ngụy biện dưới dạng “post hoc”. Ví dụ: “Chúng ta đang chứng kiến một tình trạng thất nghiệp rất cao, vì do thiếu nhu cầu của người tiêu thụ.” (Nhưng có thể cả hai sự kiện có nguyên nhân từ tiền lời quá cao.)

28. Ảnh hưởng không đáng kể. Đây là một loại ngụy biện mang tính phóng đại từ một ảnh hưởng rất nhỏ. Chẳng hạn như “Hút thuốc gây ra ô nhiễm môi trường ở Sydney” là một phát biểu đúng, nhưng ảnh hưởng của thuốc lá đến môi trường rất khiêm tốn khi so với ảnh hưởng của khói xe và các hãng xưởng.

29. Ảnh hưởng ngược chiều. Mối quan hệ giữa nguyên nhân và hậu quả bị đảo ngược chiều để tìm đến một kết luận mang tính ngụy biện. Ví dụ: “Ung thư gây ra thói quen hút thuốc lá”.

30. Nguyên nhân phức tạp. Một sự kiện xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng người ngụy biện có thể đơn giản hóa thành một liên hệ đơn giản. Chẳng hạn như “Tai nạn xe cộ là do đường xá xấu” có thể đúng, nhưng tai nạn cũng có thể do người lái xe ẩu trong một điều kiện xấu.

31. Nguyên nhân sai (Non causa pro causa). Loại ngụy biện này xảy ra khi một điều nào đó được cho là nguyên nhân của một sự kiện, nhưng nó chưa thực sự được chứng minh là nguyên nhân. Ví dụ: “Tôi uống một viên aspirin và cầu nguyện thượng đế, và tôi không còn bị nhức đầu. Như vậy thượng đế đã chữa trị tôi khỏi nhức đầu.”

Nhóm 6. Phi logic (non sequitur) và nhần lẫn trong tam đoạn luận
32. Phi logic. Ngụy biện phi logic thường xảy ra trong trường hợp một lí lẽ mà kết luận được rút ra từ những tiêu đề không dính dáng gì với nhau. Chẳng hạn như “Người Ai Cập đã từng làm nhiều khai quật để xây dựng những kim tự tháp, họ chắc chắn phải rất thạo về cổ sinh vật học.”

33. Loại bỏ tiền đề. Ngụy biện loại này thường xảy ra dưới hình thức “nếu A thì B, không phải A thì không phải B.” Ví dụ: “Nếu tôi ở Sydney thì tôi đang ở New South Wales. Tôi hiện không ở Sydney, do đó, tôi không ở New South Wales”.

34. Nhét chữ vào miệng người khác. Đây là một loại ngụy biện bằng cách dùng kĩ thuật phỏng vấn. Một trường hợp cổ điển là “Ông đã ngưng đánh vợ chưa?” Tức là một câu hỏi với một giả định rằng người được hỏi từng hành hung vợ. Đây là một mẹo mà giới luật sư thường hay dùng trong thẩm vấn. “Ông dấu tiền ăn cắp đó ở đâu?” Giới chính khách cũng thích mẹo này, đại khái như “Bao giờ thì nhóm EU này sẽ không còn xâm phạm vào công việc của chúng ta?”

35. Ngụy biện tứ ngữ. (Một tiêu chuẩn của tam đoạn luận gồm có 3 chữ). Ví dụ như trong câu phát biểu “Tất cả chó là thú vật, và tất cả mèo là loài động vật có vú, do đó tất cả chó là loài động vật có vú,” có bốn chữ: chó, mèo, động vật, và động vật có vú.

36. Đứt đoạn. Hai sự vật riêng biệt được xem là có liên hệ nhau nếu chúng có chung đặc tính. Người ngụy biện lợi dụng chữ giữa của một phát biểu để đưa đến một kết luận sai. Chẳng hạn như trong câu “Tất cả người Nga là nhà cách mạng, và tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ cũng là nhà cách mạng, do đó, tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ là người Nga,” chữ chính giữa là “nhà cách mạng”. Nhưng kết luận này sai, vì dù những người theo chủ nghĩa vô chính phủ và người Nga là những người cách mạng, nhưng họ có thể là hai nhóm cách mạng khác nhau.

Nhóm 7. Các nhầm lẫn khác
37. Dẫn chứng bằng giai thoại. Một trong những ngụy biện phổ biến nhất và đơn giản nhất là dựa vào những câu chuyện có tính vụn vặt, hay giai thoại. Chẳng hạn như “Có hàng khối bằng chứng cho thấy thượng đế hiện hữu và vẫn ban phép mầu hàng ngày. Mới tuần rồi đây, tôi có đọc được một câu chuyện về một cô gái sắp chết vì ung thư, cả gia đình cô đi cầu nguyện trong nhà thờ, và chỉ vài ngày sau cô hết bệnh.” Dùng kinh nghiệm cá nhân để minh họa cho một luận điểm là một điều hoàn toàn hợp lí, nhưng dùng những giai thoại như thế sẽ chẳng chứng minh gì. Một anh bạn có thể cho rằng anh từng gặp Elvis ở một siêu thị nào đó, nhưng những người chưa gặp Elvis bao giờ thì cần nhiều bằng chứng xác thực hơn.

38. Lợi dụng cổ tích. Đây là một loại ngụy biện cho rằng những gì đúng hay tốt chỉ đơn giản vì chúng là cổ xưa, và những người theo cách ngụy biện này thường nói “hồi nào đến giờ ai cũng vậy.” Chẳng hạn như “Hàng trăm năm nay, Úc chịu dưới sự cai trị của Hoàng gia Anh, và là một nước thịnh vượng. Một thể chế tồn tại lâu dài như thế ắt phải là một thể chế ưu việt.”

39. Dựa vào cái mới (ad novitatem). Ngược lại với loại ngụy biện dựa vào cái cũ, ngụy biện dựa vào cái mới cho rằng một điều gì đó tốt hơn và đúng hơn đơn giản chỉ vì nó mới hơn cái khác. “Windows 2000 phải tốt hơn Windows 95, Windows 2000 mới được thiết kế lại năm ngoái.”

40. Lí lẽ của đồng tiền. Loại ngụy biện này thường dựa vào một niềm tin duy nhất rằng đồng tiền là một tiêu chuẩn của sự đúng đắn. Những người có nhiều tiến có khả năng đúng hơn những người ít tiền. Chẳng hạn như “Nhu liệu của hãng Microsoft đương nhiên là tốt hơn; nếu không thì làm sao Bill Gates có thể trở nên tỉ phú như thế”.

41. Dựa vào cái nghèo. Ngược lại với ngụy biện dựa vào sự giàu có, có một loại ngụy biện khác dựa vào sự nghèo khổ. Chẳng hạn như “Các vị sư có khả năng hiểu thấu được ý nghĩa của cuộc sống, bởi vì họ từ bỏ mọi xa hoa của cuộc sống.”

42. Điệp khúc (ad nauseam). Loại ngụy biện này cho rằng một lí lẽ càng được lặp đi lặp lại nhiều chừng nào thì nó sẽ được người ta chấp nhận là đúng. Do đó, người ngụy biện thường chỉ lặp đi lặp lại những phát biểu, bất kể đúng sai ra sao, cho đến khi người đối thoại mệt mỏi không còn muốn nghe nữa, như “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lí”.

43. Lạm dụng thiên nhiên. Đây là một ngụy biện rất thông thường trong giới chính trị gia, mà trong đó họ tìm cái tương đồng giữa một kết luận nào đó và một khía cạnh của thế giới tự nhiên, rồi từ đó phát biểu rằng kết luận đó là không thể tránh khỏi. Chẳng hạn như “Đặc điểm của thế giới tự nhiên là cạnh tranh; động vật đấu tranh chống nhau để làm chủ tài nguyên thiên nhiên. Chủ nghĩa tư bản, một hình thức cạnh tranh để làm chủ tư liệu, chỉ đơn giản là một phần của con người sống trong thế giới tự nhiên. Đó cũng là cách mà thế giới tự nhiên vận hành.”

Một hình thức khác của lạm dụng thiên nhiên là lí luận cho rằng bởi vì con người là sản phẩm của thế giới tự nhiên, chúng ta phải bắt chước hành động theo những gì chúng ta thấy trong thế giới tự nhiên, và làm khác đi là “phi tự nhiên”. Ví dụ: “Đồng tính luyến ái dĩ nhiên là không tự nhiên.”

44. Ngụy biện “anh cũng vậy”. Đây là một trong những ngụy biện rất phổ biến. Nó dựa vào lí lẽ rằng một hành động có thể chấp nhận được bởi vì người đối nghịch đã làm. Chẳng hạn như “Anh là một người lừa dối.” “Rồi sao? Anh cũng là một tay lừa dối vậy.”

45. Lạm dụng thống kê. Thống kê thường được giới ngụy biện sử dụng tối đa, vì theo họ thống kê có thể dùng để “chứng minh” bất cứ điều gì. Người ta có thể vặn vẹo hai con số 1 và 3 điểm để sản xuất những phát biểu như “khác nhau 2 điểm”, “cao gấp 3 lần”, hay “tăng 200%”; người ta có thể dựa vào ý kiến đồng tình của 4 người trong 5 người để cho là “80% người được thăm dò”, hay thậm chí “đa số cộng đồng” đồng ý với một luận điểm nào đó. Tức là những khái quát hoá một cách vội vã, hay dựa vào một mẫu số cực kỳ thấp, thấp đến độ nó không có nghĩa lí gì. Thực ra, thống kê không chứng minh điều gì cả. Thống kê chỉ là một phương tiện hay thuật toán dùng để loại bỏ những trường hợp khả dĩ hay không khả dĩ. Vì có quá nhiều ngụy biện thống kê, nên vấn đề này sẽ được bàn tiếp trong một dịp khác.

Nhận xét
Có thể nói những loại ngụy biện trên đây có những đặc điểm chung là (a) phát biểu không dựa vào lí lẽ logic; (b) các định đề không vững để đi đến một kết luận; và (c) đưa ra giả định không đúng. Ngụy biện, do đó, nói cho cùng, là một sản phẩm của sự lười biếng suy nghĩ. Và hầu như trong chúng ta, ai cũng có ít nhất là một lần lười suy nghĩ. Do đó, nếu điểm qua những loại ngụy biện trên đây, chúng ta tự cảm nhận rằng trong quá khứ mình chắc cũng có lần phạm vào lỗi lầm của ngụy biện. Điều này có thể đúng, và không nên lấy làm ngạc nhiên, vì các nhà thông thái, và ngay cả giới có huấn luyện về logic học cũng đôi khi, vì cố ý hay vô tình, ngụy biện. Giới chính trị gia và truyền thông là những người cực kì nổi tiếng về ngụy biện.

Nhưng tại sao những ngụy biện vẫn còn có mặt trên báo chí? Theo tôi, bởi vì chúng vẫn có khách hàng. Vẫn có người, dù ít hay nhiều, tin tưởng vào ngụy biện, vì nó thuận nhĩ, trơn tru, và nhất là không thách thức. Sờ một hòn đá trơn tru đem lại cho chúng ta một cảm giác khoan khoái dễ chịu hơn là sờ một hòn đá lởm chởm, hay ngồi trên một cái ghế ghồ ghề. Người ta thích sự trơn tru, bởi vì trơn tru là dấu hiệu của sự khoan khoái, dễ chịu, là cái khoảng thời gian giải lao, không cần sự thách thức.

Có lẽ, ở một khía cạnh nào đó, điều này cũng không đến nỗi tệ, bởi vì những ngụy biện phản ánh sự thành công [hay có người nói sự phong phú] của ngôn ngữ trong việc tách rời giữa những gì thô thiển, gồ ghề với những gì hoàn thiện, mĩ miều. Nhưng sự trơn tru của các vật thể và ngôn ngữ ngày nay đem lại cho chúng ta một cảm giác giả tạo về thế giới thực của các vật thể. Những kì kẹt xe trên đường xá mới để lộ trái tim phức tạp của một thành phố. Tương tự, một sự cố của internet sẽ nhắc nhở chúng ta về tình trạng hỗn mang và phức tạp của hệ thống thông tin điện tử. Sự hỗn mang và phức tạp là thực. Trơn tru, tròn trĩnh có thể là giả tạo. Những câu văn ngụy biện có thể chỉ là những lời phát biểu lém lỉnh thay vì lịch thiệp, hàm chứa mánh khóe thay vì thân thiện. Có thể nói, ngụy biện là những lối sáo ngữ liến thoắng nhằm vào mục đích lôi cuốn người nghe/đọc, thay vì cung cấp cho họ một sự thực.

Bởi vì ngụy biện là những lí lẽ mà bề ngoài có vẻ logic, nên chúng có khả năng thuyết phục những người không chịu khó suy nghĩ, nhất là những người còn mang nặng cảm tính. Điều này giải thích tại sao nhiều người tiếp nhận một cách thụ động quá nhiều những điều quái gở về thế giới chung quanh, kể cả những niềm tin tôn giáo, những mê tín dị đoan, những triết lí quái đảng, những thông tin sai lạc, v.v.. Cái tác hại của việc tiếp nhận thụ động này là nó làm cho người ta trở nên nô lệ với cảm tính, và dễ dàng trở thành những tín đồ cuồng tín của những người “lãnh đạo” chính trị hay tôn giáo.

Để không trở thành những nô lệ, cần phải suy nghĩ nghiêm túc. Suy nghĩ nghiêm túc là một quá trình hoạt động tri thức nhằm ý niệm hóa, ứng dụng, phân tích, tổng hợp, và đánh giá những thông tin được thu thập từ quan sát, kinh nghiệm, phản ánh, lí luận, hay liên lạc, như là một niềm tin cho hành động. Cần phải dựa vào những giá trị tri thức với những đặc điểm như trong sáng, chính xác, nhất quán, có liên hệ, bằng chứng tốt, lí lẽ hợp lí, có chiều sâu, và công bằng. Tức là, trước một câu phát biểu hay một đề nghị, cần phải thẩm định lại kết cấu và nguyên tố của phát biểu hay đề nghị đó. Những kết cấu và nguyên tố này là: mục đích, vấn đề, giả định, quan niệm, bối cảnh, kết luận, ngụ ý, hậu quả, phạm vi tham khảo, và quan điểm khác.

Người Việt chúng ta thường rất tự hào về những đối thoại [mà chúng ta cho là “thông minh”] giữa Trạng Quỳnh và Chúa Trịnh ngày xưa. Nhưng nói một cách công bằng và theo tiêu chuẩn của lí luận logic, thì những trao đổi của Trạng Quỳnh hay tương tự chỉ là những ngụy biện ở trình độ thô sơ nhất. Nhưng có điều đáng buồn là những đối thoại kiểu Trạng Quỳnh, mà trong đó sự hơn thua nhau từng câu nói, bắt bẽ nhau từng chữ, vặn vẹo ý nghĩa của từng câu văn, v.v… lại đi vào sử sách, như thể để làm gương cho thế hệ sau này. Mà làm gương thật. Cho đến ngày nay, có người vẫn còn cho đó là một biểu tượng của sự thâm thúy, thông minh của dân tộc, là phản ánh sự phong phú của ngôn ngữ Việt, và đem ra ứng dụng trong tranh luận.

Theo dõi báo chí, chúng ta thấy những hình thức tấn công cá nhân (thay vì tấn công vào luận điểm), xuyên tạc ý tưởng, chụp mũ, suy luận theo cảm tính, mỉa mai, đơn giản hóa vấn đề, v.v… xuất hiện hầu như hàng ngày, có khi hàng giờ. Vì những tần số của những loại ngụy biện xuất hiện quá nhiều như thế, nó thành một sự rập khuôn. Theo thời gian, rập khuôn trở thành “truyền thống”. Hậu quả của cái truyền thống này là những ai ra ngoài cái khuôn sáo của ngụy biện đều có thể bị xem là phi chính thống, dẫn đến một lối suy nghĩ và phán xét kì quặc kiểu “anh/chị không thuộc nhóm của tôi, vậy thì anh/chị thuộc nhóm bên kia,” “anh chê ‘quốc gia’, vậy anh phải là cộng sản,” “anh khen Việt Nam, vậy anh là cộng sản,” “giọng nói anh ‘Bắc kỳ 75’, vậy anh là cộng sản,” hay “Nhà nước cho anh ra ngoài này trình diễn, chắc anh là cộng sản đi tuyên truyền”… Anh ở phía này, tôi bên kia. Nói tóm lại, đó là một lối phân định theo hai giá trị: xấu và tốt, đen và trắng, hay địch và ta một cách cứng nhắc. Cách phân định này thể hiện một sự nghèo nàn về trí tuệ, hay lười biếng suy nghĩ. Chỉ cần đặt vấn đề ngược lại một chút, hay phát triển vấn đề xa hơn một chút, ai cũng có thể thấy lối phân chia có/không này không thể đem đến một đáp số cho một vấn đề nào cả.

Trong cái sự thực phức tạp, mờ mờ ảo ảo của vấn đề, có cái đẹp riêng. Không phải cái đẹp trơn tru, tròn trĩnh, nhưng là cái đẹp khắt khe của sự thật. Tương tự, một lời phát biểu nghịch lí có cái đẹp của nó, vì nó có thể đánh thức chúng ta về một thế giới phức tạp, một thế giới không nằm gọn trong đúng/sai, tốt/xấu, bạn/thù. Có lẽ đã đến lúc chúng ta nên vượt qua chính mình bằng cách cho các tế bào trí tuệ có cơ hội làm việc.
(nguon www.chungta.com)

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2011

Sư tử, lừa và cáo

Sư tử, lừa và cáo ra đi kiếm mồi. Chúng tóm bắt được nhiều
thú. Sư tử ra lệnh cho lừa phải chia phần. Lừa chia đều ra ba phần
và bảo:
- Thôi, bây giờ xin nhận phần cho!
Sư tử tức giận ăn thịt lừa và ra lệnh cho cáo phải chia lại phần.
Cáo thu tất cả lại một đống, phần mình thì để lại chút xíu. Sư tử xem
qua rồi bảo:
- Hèm, khá lắm! Ai đã dạy ngươi chia phần khéo thế hả?
Cáo trả lời :
- Thế chuyện gì đã xảy ra với lừa ạ?

Sư tử và cáo

Vì già lão, sư tử không đi săn được bèn nghĩ cách sống bằng mưu mẹo: Nó vào trong hang, nằm lăn ra và giả vờ ốm. Các con thú kéo đến thăm sư tử, thế là sư tử chén thịt những con nào vào hang nó. Cáo hiểu rõ sự tình, đứng bên cửa hang mà lên tiếng:
   - Sức khỏe của ngài ra sao, kính thưa ngài sư tử?
   Sư tử trả lời:
   - Tồi lắm. Mà sao cô không vào hang thế nhỉ?
   Cáo bèn đáp :
  - Tôi không vào là bởi vì theo các dấu vết chân tôi thấy rõ là vào rất nhiều mà ra thì không.

Con hươu

Hươu đi đến bờ suối uống nước, nhìn thấy bóng mình dưới nước, lấy làm thích thú vì cặp sừng của mình: Cặp sừng mới đồ sộ, mới nhiều nhánh làm sao, nhưng nhìn xuống chân thì nó lại buông lời:
  - Chỉ có điều 4 chân ta xấu xí, yếu ớt quá. Bỗng một con sư tử nhảy ra và vồ hươu. Hươu vụt phóng đi trên cánh đồng quang đãng. Nó chạy thoát,nhưng khi chạy vào rừng, nó lại vướng mắc cặp sừng vào cành cây, thế là sư tử chộp được nó. Đến lúc sắp hết đời, hươu mới nói:
   - Thế đấy, mình thật ngu ngốc! Về những người có thể cứu mình thì mình nghĩ là họ tồi và yếu ớt, còn những kẻ làm mình mất đời thì mình lại từng thích thú.

Con cáo

Cáo ta sập bẫy, vẫy vùng đứt đuôi rồi thoát ra được. Nó bèn ngẫm nghĩ xem làm thế nào che lấp được nỗi nhục của mình. Nó cho gọi tất cả họ nhà cáo đến và lên tiếng dỗ dành chúng chặt đuôi cả đi. Nó nói:

-Cái đuôi hoàn toàn chẳng để làm gì, ta chỉ kéo thêm nặng phía sau mà thôi. Một con cáo khác bèn lên tiếng:

-Chà, nếu chị không cộc đuôi thì hẳn chị chẳng nói điều ấy. Cáo cộc đuôi nín lặng và bỏ đi.

Cáo và dê

Dê khát: nó lần xuống giếng dưới chân dốc uống no và trở nên nặng nề. Nó leo ngược dốc lên nhưng không được. nó rống be be. Cáo nhìn thấy bèn bảo:

-Đồ ngốc! Nếu như trí óc trong đầu mi cũng nhiều như bộ râu mi, thì trước khi xuống dốc, mi phải nghĩ xem có leo ngược được không.

Lừa đội lốt sư tử

Ngụ ngôn Aesop

Một con lừa đội bộ da sư tử đi khắp rừng và lấy làm vui thích vì đã dọa được những con vật ngốc nghếch mà nó gặp trên đường. Sau cùng, lừa gặp một con cáo và cũng thử dọa con này, nhưng khi vừa nghe thấy tiếng kêu của con lừa, cáo bèn nói: “Hẳn ta cũng đã rất khiếp sợ nếu như ta chưa từng nghe tiếng kêu be be của chú mày”.

Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2011

10 năm ngày trở lại!

Nhớ 10 năm trước! Một thằng bé cao lên khênh, khăn gói lên SG để thi vào ĐH. Xa nhà, xứ lạ, ngỡ ngàng quá đỗi. Những hoang mang và lo lắng vô hình trung tạo thành động lực để cố gắng, phấn đấu, để khẳng định. Càng hoang mang về số phận, tôi càng cố gắng học tập. Miệt mài trên bài vở, bất chấp những thay đổi của cuộc sống. Trời không phụ lòng người, cổng trường ĐH rộng mở chào đón, trường ĐH danh tiếng nhất cả nước. Hành trang buổi ấy chỉ có niềm tin vào sự lao động học hành của mình.

Sau mười năm học và đi làm gói hành trang ấy nặng cả hai vai. Nghề nghiệp cũng ổn, tuy chưa có thành công nhưng cuộc sống thì tạm được.

Hai người tôi yêu là hai thái cực của phụ nữ.

Người đầu thông minh, sâu sắc, khá xinh xắn. Đó luôn được tôi xem là một tri kỷ, một người ảnh hưởng sâu sắc đến phong cách, cách nhìn nhận về phụ nữ. Người ấy cá tính mạnh mẻ, yêu ghét rất rạch ròi. Mẫu người mơ ước của nhiều người con trai.

Tôi và em học chung phổ thông, đậu đại học cùng năm. Cả hai có tình cảm khi mà ngưỡng cửa ĐH mở ra. Trường tôi học cùng thành phố nhưng cách trường cô ấy khá xa. Những buôỉ chiều hò hẹn, dạo ấy còn thư tay, tình yêu đến thật chậm, thật tự nhiên. Dạo sau, trường tôi học chuyển địa điểm đào tạo, dẫu xa nhưng không tuần nào hai người không gặp gỡ. Ăn thì hai đứa ăn chung luôn một dĩa. Đời sinh viên lắm lúc hết tiền, cả 2 chia nhau ổ bánh mì ngồi dưới xe nước mía trong cơn mưa phùn ngoài cổng trường ĐH. Ăn ngon lành, hạnh phúc. Những chiều cuối tuần mưa SG như trút nước, tôi đội mưa rát cả mặt, chay mấy mươi cây số lạnh lẽo, ướt mèm để thăm cô bạn. Nàng nhìn tôi vừa thương vừa mừng rỡ. Những ngày ấy là những ngày hạnh phúc nhất đời tôi đến tận giờ.

Tình yêu ấy thật lãng mạn, trong sáng. Những đam mê rực cháy của tuổi trẻ như thế. Một tình yêu viên mãn, trọn vẹn.

Người sau, là một thái cực ngược lại, đẹp rực rỡ, vẻ đẹp làm tôi choáng ngợp ngay từ ánh nhìn đầu tiên, khuôn mặt dịu dàng phúc hậu, giọng nói nhẹ nhàng đằm thắm rất nữ tính. Nhưng lạ một điều là người ấy sống rỗng tuếch, hiểu biết rất nông cạn, lười suy nghĩ. Chỉ chực phô bày vẻ đẹp cơ thể cho những người đàn ông khác chiêm ngưỡng và lấy làm tự hào về điều đó. Tôi không phải dân chơi, không phải đại gia, cũng không phải là công tử...Nhưng bằng kinh nghiệm, vẻ điển trai và phong cách hào hoa tạo dựng, tôi dễ dàng chinh phục nàng, chinh phục người nhà nàng bằng sự lễ độ, hào phóng. Nhưng thú thật là những đam mê thể xác không làm nên tình yêu, tuổi thọ của những đam mê ấy cũng rất ngắn. Sáu tháng vui buồn, ngọt nhạt, tôi nhẹ nhàng để cô ấy ra khỏi đời mình. Khi đam mê không còn, cô ấy không khác gì một con búp bê, chỉ biết ăn gì cho ngon, mặc gì cho đẹp. Những cuộc mây mưa hững hờ, giống như bản năng của những con thú cố gắng để làm tròn bổn phận duy trì nòi giống mà tạo hóa đã ban cho họ. Tôi biết một ngày nào đó, khi xa tôi, cô ta cũng sẽ lại sẵn dàng lao vào những người đang chầu chực xếp hàng đến lượt mình...

Sự ra đi ấy là chính tôi lựa chọn, sau khi phát hiện cô ta đã lao vào một người khác. Lấy nhà trọ và khách sạn làm nhà, cô đi với gã khác. Chính bà mợ, người cho cô ta ở nhờ lâu nay cũng chán ngán và tuyên bố đuổi cô ta ra khỏi nhà. Dạo đó, tôi rỗng tuếch, suy nghĩ nhiều, nhưng không biết suy nghĩ về cái gì. Tôi không trách người con gái ấy, vì đó là kết quả đúng như tôi dự đoán và linh cảm ngay từ đầu. Tôi chỉ băn khoăn không biết cuộc đời ấy sẽ về đâu, cuộc đời còn dài. Có khi cuộc sống nghiệt ngã sẽ đẩy cô ta vào những đống bùn nhơ, đáy xã hội, khi mà bằng cấp không có, công việc cũng không ổn, nết na cũng thiếu. Hay là có gã nào đó thương hại mà vớt vát lại đời nàng. Những điều tôi suy nghĩ đây tin chắc là cô ấy không hề suy nghĩ tới, sống không mục đích, không định hướng... đời sẽ trôi về đâu?

Thế là 2 mối tình đáng nhớ nhất cuộc đời đã trôi qua khi mà tôi đang ở quảng cuối của hàng hai mươi. Tôi biết rằng ở độ tuổi này, hiếm người có nhiều trải nghiệm về tình yêu như tôi, thậm chí có nhiều người suốt đời không biết thế nào là tình yêu, một số người khác thì cuối đời có được rồi thì lao theo, bất kể sống chết, địa vị xã hội, tương lai con cái.

Đến lúc tôi nhận ra rằng cuộc đời thật đáng quý, không phải sống để trải nghiệm nữa, mà mỗi giây phút đều là sống, đều là cuộc đời, không phải là bản nháp như tôi đã nháp ở hai bài toán trên kia. Một số điều trong cuộc sống hiện tại sẽ trở thành ký ức trong tương lai, khi mà mọi thứ dần đi vào quên lãng. Ký ức là điều duy nhất còn sót lại.

Chuồn chuồn và kiến

Đến mùa thu, lúa mì của kiến bị ẩm ướt, họ nhà kiến đem ra phơi. Chuồn chuồn đói đến xin kiến thức ăn. Kiến mới bảo:
  - Sao mùa hè anh không đi thu nhặt thức ăn?
  Chuồn chuồn đáp :
  - Chẳng có thì giờ rỗi rảnh, tôi bận hát. Họ nhà kiến bật cười và bảo:
  - Nếu như mùa hè chơi bời thì mùa đông nhảy múa đi.

Thứ Năm, 21 tháng 4, 2011

Sư tử và lừa


Một hôm, sư tử đi săn và đem lừa đi theo.

Sư tử bảo với lừa:
-Cậu cứ vào rừng, lừa ạ, có bao hơi sức cậu rống lên.
Con thú nào nghe thấy tiếng rống ấy sợ bỏ chạy, tôi sẽ tóm gọn hết.

Nghe sao làm vậy.

Lừa rống lên, các con thú chạy tán loạn, thế là sư tử tóm bắt chúng.

Sau cuộc săn bắt, sư tử bảo lừa:
-Chà, tôi khen ngợi cậu, cậu rống khá lắm.

Thế là từ đó lừa cứ rống hoài, cứ chờ đợi hoài người ta khen nó.

Thứ Hai, 18 tháng 4, 2011

Đại bàng, cáo và người chăn cừu


Bầy cừu tha thẩn ăn trên đồng. Một con đại bàng không hiểu từ đâu bay tới lao xuống quắp một chú cừu mang đi. Quạ nhìn thấy thế cũng đâm thèm chén thịt. Nó tự bảo:

- Chẳng có gì đặc biệt cả. ta cũng làm như vậy, mà còn hay hơn nữa kia. Đại bàng là đứa ngu, nó chộp con cừu non bé tí, chứ ta là ta chọn con cừu đực béo núc kia kìa.

Quạ cắm móng vuốt vào đám lông cừu đực, muốn cuỗm đi nhưng cuỗm sao nổi. Mà nó cũng chịu không biết làm cách nào gỡ nổi móng vuốt ra khỏi đám lông cừu. Ngời chăn cừu đi tới gỡ chân quạ ra khỏi đám lông cừu, đánh chết quạ rồi ném đi.

Chỉnh đốn giờ giấc từ ngày mai.

 6h30 – 8h
Dậy, tắm, ăn sáng, cà phê, đọc báo
8h – 10h
Anh Văn
10h - 10h30
Đọc báo, xem blog
10h30 – 12h
Toán
12h – 13h
Ngủ, nghỉ
13h – 5h
Mạch và giải lao
5h – 7h30
Ăn, tắm, đọc
7h30 – 11h
Xem cân nhắc

* Đọc: Theo dõi tin thời sự, chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật.
* Suy ngẫm: Tia sáng, chúng ta để nâng tầm hiểu biết, tư duy, lý luận.
===================================
18/04/2011
- Chao ôi, ngày nào cũng ngái ngủ, dậy muộn, lướt web đọc những thứ linh tinh mất hết thì giờ.
- Mai quyết tâm chỉnh đốn.

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2011

Ngựa đực và ngựa cái

Con cái ngày đêm không làm lụng gì hết và chỉ thơ thẩn trên cánh đồng. Còn ngựa đực đêm đêm mới được thả đi ăn, ban ngày phải cày đất.

Thấy vậy ngựa cái mới bảo ngựa đực:

- Anh việc gì phải kéo cày? Giá tôi ở địa vị anh thì tôi không có chịu. Chủ mà lấy roi quật tôi, tôi sẽ tung vó đá lại.

Sáng ngày hôm sau ngựa đực bèn làm theo lời ngựa cái. Bác nông dân thấy ngựa đực trở nên ương bướng, bèn đóng ngựa cái vào vai cày.

Chủ nghĩa hiện sinh và duy vật biện chứng

Nguyên tác: Existentialisme et Matérialisme Dialectique
(Revue de Métaphysique et de Morale, Vol. 58, n° 2-3, 1949, tr. 317-329.
Người dịch: Phạm Trọng Luật
Xuất hiện trong số đặc biệt về những vấn đề lịch sử của Revue de Métaphysique et de Morale năm 1949, bên cạnh các bài khác của Raymond Aron, George Davy, Lucien Febvre, Claude Lévi-Strauss, Henri-I. Marrou, Dominique Parodi, có lẽ tiểu luận này của Trần Đức Thảo chính là ngòi pháo đã làm nổ ra cuộc tranh luận với Jean-Paul Sartre, trong điều kiện quan hệ giữa hai bên có thể đã khá căng từ trước. Dù sao, sau cuộc tranh luận dở dang, cả hai triết gia vẫn còn đủ sáng suốt để công nhận những đóng góp của mỗi bên cho triết học khi có dịp phát biểu về đối phương [1].
Về bản dịch, ngoài những điều đã nêu lên trong lần chuyển ngữ trước, xin nói thêm với quý độc giả đôi điều. Do nội dung đặc biệt của nguyên bản, chúng tôi thường phải phân biệt khái niệm triết học với từ thông dụng trong khi dịch để tránh phải lặp đi lặp lại mãi một chữ; do đó, «existence» được dịch hoặc là «tồn tại», hoặc là «cuộc đời» hay «cuộc sống» chẳng hạn. Mặt khác, để nhấn mạnh trên một ý, ngoài những từ in nghiêng của Trần Đức Thảo, chúng tôi cũng mạn phép in đậm một số câu chủ quan cho là đáng lưu ý. 

Phạm Trọng Luật.
_______________________

1
Những khó khăn mà người trí thức được đào tạo theo lối cổ thường cảm thấy trước chủ nghĩa Marx có bản chất đặc biệt, hoàn toàn không thể so sánh với cảm tưởng tối tăm trước loại kiến trúc tư tưởng quá phức tạp. Ở đây, ý nghĩa của các khái niệm đơn giản nhất cũng trở thành vấn đề, khiến ta có ấn tượng như thể chúng là không thể nào hiểu nổi đối với họ. Lý do của sự kiện này nằm ngay trong mục đích mà các nhà sáng lập chủ nghĩa duy vật biện chứng nhắm đến: đối với các vị, vấn đề không phải là cải tạo giai cấp tư sản theo một lý tưởng giả định ngay sự tiêu vong của chính nó, mà là cung cấp cho giai cấp vô sản loại vũ khí tư tưởng cần thiết cho sự hình thành ý thức giai cấp, và sự tự giác định hướng trong cuộc đấu tranh giai cấp. Thế nên ý nghĩa của những giá trị xã hội đương tồn đã bị phủ nhận tức thì trên bình diện tư tưởng để được đặt lại trên nền tảng hiện thực, bởi vì thật ra giai cấp bị bóc lột không thể có một kinh nghiệm tích cực nào về các giá trị ấy, hoàn cảnh của họ chỉ cho phép nhìn thấy bao hy sinh mà chúng bắt họ gánh chịu. Tuyên Ngôn Cộng Sản viết: «Điều kiện sinh tồn của xã hội cũ đã bị triệt tiêu ngay trong điều kiện sống của giai cấp vô sản... Trong mắt kẻ bị bóc lột, từ luật pháp, đạo lý, đến tôn giáo đều chỉ là những thành kiến tư sản che giấu đằng sau bao lợi quyền tư bản». Nhưng nhà trí thức của chúng ta có ấn tượng đang đọc những lời vô nghĩa, bởi vì bản thân họ thì nhìn thấy mặt tích cực của các giá trị đã thiết lập thật. Cảm thấy không được thông cảm, anh ta từ chối tìm hiểu đối phương - một địch thủ nói cho ngay vừa không thiết được cảm thông, vừa cũng chẳng có ý muốn tìm hiểu ngược lại. Sự thông cảm chỉ có thể làm nhụt nhiệt tình tranh đấu của anh ta, còn yêu cầu kẻ địch tự nguyện từ bỏ điều kiện sống của mình thì quả là chuyện vô ích đến không tưởng.
Lối trình bày chủ nghĩa duy vật biện chứng cổ điển có vẻ như không thể nào hiểu được, đơn giản chỉ vì nó hoàn toàn không dùng lối tư tưởng truyền thống, cũng không hướng đến giới trí thức tư sản. Nhưng đâu phải vì thế mà chủ thuyết này không bao hàm một nội dung phổ quát như học thuyết về con người toàn diện trong sự chuyển biến thực hiệu của hắn. Và nếu quy chiếu về hạ tầng cơ sở cho phép ta phê phán không thương tiếc những hệ tư tưởng lỗi thời, sự phê phán này luôn luôn nhân danh chân lý, một giá trị chỉ có nghĩa trong chừng mức là nó nảy ra từ cuộc sống hiện thực.  Chủ nghĩa duy vật lịch sử không quy giản đời người vào cơ sở vật chất của cuộc sống: khi phơi bày loại quan hệ thực hiệu làm nền tảng cho những ý nghĩa thuộc lĩnh vực tinh thần, nó mang lại cho khái niệm chân thực một định nghĩa triệt để.
Mặt quyến rũ của chủ nghĩa Marx nằm ở khả năng xây dựng hơn là ở sức phủ định của nó, và có lẽ đây là một trong những nét đặc thù của thời đại chúng ta. Sự phê phán chủ nghĩa tư bản và nền đạo lý tư sản không còn cần thiết nữa: thế giới hiện đại đã tự phê phán nó quá đầy đủ bằng tầm sâu và độ rộng của bao xáo trộn do nó gây ra. Điều vẫn còn thiết yếu là phải tìm ra một chuẩn mực tích cực để nhận diện chân lý, và đấy chính là động lực sâu xa đã lôi kéo thế hệ trẻ về phía tư tưởng Marx. Nhìn dưới khía cạnh này, chủ nghĩa duy vật biện chứng trong nội dung hiện thời biểu hiện thành quả mà cuộc vận động triết học hiện đại đạt đến. Nếu thế kỷ 19 đã chứng kiến thắng lợi rực rỡ của chủ nghĩa tự do hình thức và chủ nghĩa duy tâm trừu tượng, nó cũng đồng thời nhìn thấy ở đấy những dấu hiệu đầu tiên của sự suy tàn không thể đảo ngược. Đối tượng của triết học từ đây sẽ là con người toàn diện và thực hiệu. Trong sự trở về với thế giới cụ thể này, bởi vì hiện tượng học và chủ nghĩa hiện sinh là những nỗ lực phong phú nhất, chính trong biện chứng nội tại của chúng mà ta sẽ tìm thấy lối dẫn nhập tự nhiên vào các khái niệm của học thuyết Marx.
2
Vào đầu thế kỷ 20, vì sự thiếu vắng một hệ thống tư duy đủ đồ sộ để bao quát tất cả, tư tưởng Âu châu không ngừng dao động giữa hai đối cực. Một triết lý «khoa học» thực sự muốn đạt đến toàn bộ nội dung của tinh thần cùng với khả năng trình bày nó dưới một hình thức chặt chẽ, song trên thực tế chỉ với tới phần lịch sử của vật lý toán học. Và một triết lý «văn học», để có thể kiến giải cuộc sống con người trong ý nghĩa nhân sinh thực sự và trọn vẹn của nó, đành phải vất bỏ mọi yêu cầu chính xác đặc thù thuộc loại suy luận lý thuyết. Trong hoàn cảnh đó, hiện tượng học tự giao cho mình nhiệm vụ hợp nhất sự mầu mỡ của lãnh vực nhân sinh với yêu cầu chính xác của phương pháp khoa học, đồng thời diễn đạt bằng những khái niệm chặt chẽ phần ý nghĩa của nghiệm sinh dường như chỉ thuộc về không gian riêng của phân tích văn học cho đến thời điểm ấy. Bước tiến quyết định là sự cải biến ý niệm khách thể, bị giới hạn trong tư duy truyền thống vào đối tượng tư duy của khoa vật lý, và được mở rộng triệt để ở đây; từ nay hiện thực phải được nắm bắt trong ý nghĩa đầy đủ nhất của nó:  vật lý, đạo lý, thẩm mỹ, tôn giáo, như là nó tồn tại đối với tôi, trong tất cả mọi nghĩa có khả năng xác định cho tôi ngay chính ý niệm tồn tại. Cương quyết vất bỏ sự phê phán của Descartes về loại «phẩm chất hàng hai» [2], bởi vì rốt cuộc nó làm nghèo lĩnh vực triết học một cách quá đáng, từ đây nhà hiện tượng học xem là hiện thực tất cả những gì tồn tại theo một nghĩa nào đó, và đem nó làm đối tượng mô tả tích cực. Tùy ưu tư ở mỗi lúc, ta có thể nhận thức cảnh tượng một đêm đầy sao như phương tiện định hướng thực tiễn, hoặc một cảnh đẹp đáng chiêm ngưỡng, hay cuộc hoà tấu một bản nhạc thiên thai. Không ý nghĩa nào là hoàn toàn vắng mặt, nếu không phải vì sự bế tắc, bất lực của chính ta trong một hướng nhận thức nào đó. Và không ý nghĩa nào có thể bị phủ nhận hay chối bỏ như «chủ quan», bởi vì thế giới hiện thực chỉ có thể là cái thế giới này, đang phơi mở ra đây với tất cả mọi ý nghĩa nó có thể có cho tôi, trong khi tôi sống trong lòng nó. 
Với sự mở rộng ý niệm hữu thể, từ nay bao gồm tất cả mọi ý nghĩa của thế giới cuộc sống, nghĩa là cái thế giới trong đó chúng ta thảy đều đang sống và đang xây dựng đủ thứ kiến trúc lý thuyết, tư duy triết học cũng đổi nghĩa mới. Ở vào thời kỳ mà phải là cái gì có định nghĩa trong hệ thống vật lý toán học mới được xem là hiện thực, triết gia chỉ có thể đi tìm nền tảng của tính khách quan trong sự nhất quán của tư duy như cái tạo thành thế giới khoa học: đó là «ý thức siêu nghiệm» của triết lý phê phán. Và ngay cả thế giới của nhận thức cũng chỉ tìm được hiện thực của nó trong sự tương hợp với những phạm trù của tri giác. Với sự công nhận tất cả mọi nghĩa của hữu thể, cái tôi mà ta quay lại không còn là hoạt động thống nhất đơn thuần nữa, mà là ý thức cụ thể, là chính cái ý thức này mà tôi nhận biết khi thực sự quay lại trong tôi. Chủ thể không còn là chủ thể khoa học nữa, mà là thằng tôi thực hiệu, trong hiện thời này và trong sự phong phú của nghiệm sinh. Ý thức siêu nghiệm theo nghĩa hiện tượng học không còn là một sở cứ - nơi những phạm trù giác tính thống lãnh sự hình thành của đối tượng vật lý, mà là dòng đời cụ thể của tôi - nơi chính ý nghĩa của hiện thực đang tự phơi mở như chẳng là gì khác hơn là tự thân cái tồn tại cho tôi, trong một nhận thức thực hiệu.  
Cái «tôi siêu thế» của Husserl, đặt «ra ngoài thế giới» bởi sự «bỏ vào ngoặc» mọi tồn tại thế gian, thực chất là cái tôi cụ thể đầy thời tính mà nội dung không hề phân biệt được với thằng tôi nhân sinh: một suy nghĩ đơn giản đủ để nhận diện hiện thể này và định nghĩa hắn một cách biện chứng như hữu-thể-tại-thế. Vấn đề siêu nghiệm làm nền tảng cho tính khách quan từ nay phải được giải quyết bằng sự phân tích hiện thực người.                              
Nhưng rồi hiện thực vừa tìm lại được bây giờ lại tự định nghĩa bằng sự phủ nhận mọi hiện thực khách quan, bởi vì những khái niệm hiện sinh chỉ quy chiếu về tính hiện thời của hiện hữu. Chủ nghĩa hiện sinh thật ra chỉ kế thừa triết lý siêu nghiệm, và triết lý này đã đạt đến bình diện cụ thể với Husserl; thế nhưng, cũng như «ý thức tạo lập» không thể được giải thích bằng «đối tượng được tạo lập», bởi vì theo lối suy luận cổ điển giả định thì nó phải có trước, Dasein không thể chấp nhận trong định nghĩa của hắn một quy định khách quan nào, bởi vì tính siêu thế của hắn là nền tảng của hiện thể gọi là thế giới. Con người không tồn tại như cục đá, không chỉ đơn giản vì một khác biệt thể loại, mà bởi một lý do sâu sắc hơn: bởi vì tất cả mọi ý nghĩa của thế giới khách quan đều có cơ sở trong tôi,  tôi không thể nào tự giải thích mình như vật thể, dù rằng tôi chỉ có thể cảm nhận bản thân mình trong hiện thể của cái gọi là tôi. Đồng hoá ý thức siêu nghiệm với ý thức cụ thể như chính cái tôi đang nghiệm sinh, đấy chính là kết quả mà phân tích của Husserl đã đạt đến. Như thế, ta rơi vào nghịch lý là hiện hữu của tôi, mặc dù từ nay đưọc xem như tồn tại hiện thực, vẫn tiếp tục đối lập với thế giới, và ý niệm cái tôi vẫn từ khước mọi hệ lụy với bất cứ quy định thế gian nào: con người không phải là một phần của thế giới, mà đúng hơn thế giới lại là một thời cứ của nhân sinh, bởi chính tư cách của Dasein như hữu-thể-tại-thế. 
Những ý niệm như giả tạo và dấn thân lúc ấy sẽ mất hết mọi ý nghĩa chính xác. Cho dù hiện thực người bị ném vào thế gian, sự bơ vơ vô chủ của hắn không diễn tả một tình trạng khách quan nào, mà chỉ đơn giản là cách thức tồn tại riêng của hắn, trong tư cách là hắn đã luôn luôn tồn tại như thế rồi. Ý niệm cảnh ngộ không chỉ ra một hoàn cảnh thực tế nào có thể định nghĩa một cách khách quan, mà đơn giản quy về sự kiện là hiện hữu người lúc nào cũng trong hoàn cảnh – và đúng là hoàn cảnh này chỉ có nghĩa bởi cách thức cái tôi đã quyết định tự hiểu bản thân mình như thế nào, trong một chọn lựa tự do. Ở mọi trường hợp, ý niệm Dasein đều không vượt quá tính hiện thời của ý thức về cái ta, mọi vị ngữ về tính ngoại hiện đều không chỉ gì khác hơn là ngay chính tính hiện thời ấy.  
Tất cả tiến bộ thực hiện được nhờ sự công nhận chủ thể như chủ thể người bỗng dưng biến mất như thế bởi sự từ chối nhìn nhận hiện hữu trong hiện thực khách quan của nó, và ở sự từ khước này còn ẩn nấp bao thành kiến của chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm mà người ta cho rằng đã vượt qua. Tất cả mọi nghĩa của chủ thuyết hiện sinh đều đòi hỏi phải chuyển sang phân tích khách quan, nơi hữu-thể-tại-thế sẽ được công nhận như hữu thể thực hiệu. Trừ phi trở lại với ý tưởng một «cái tạo lập» vĩnh viễn tách rời khỏi «cái được tạo lập», thằng tôi sống nơi trần gian chỉ có thể là một hữu thể thuộc thế gian này, và việc áp dụng cho hắn những khái niệm trần gian là hoàn toàn chính đáng.  Tồn tại hiện thực là tồn tại vật chất. Lùi bước trước hệ quả này là trốn chạy vào sự độc đoán của cảm thức về cái ta thuần tuý, và tự bắt buộc mình định nghĩa hiện thực người như hư vô. 
3
Công nhận cái tôi như thành phần của tự nhiên, hiển nhiên ta không có ý định từ chối nhận biết hắn trong bản chất người đặc thù của hắn. Chủ nghĩa duy vật biện chứng, khi tự xác lập mình như chân lý của chủ nghĩa duy tâm, chỉ chối bỏ chủ nghĩa sau bằng cách sáp nhập nó trong nội dung thực hiệu. Tồn tại của con người nhất thiết phải mang một ý nghĩa nào đó khiến ta phân biệt được nó một cách triệt để với tồn tại của thú vật: bản chất người bao hàm sự tự phân biệt như thế. Đối với con người, hiện hữu có nghĩa là cho cuộc đời mình một ý nghĩa nào đó, và cái ý nghĩa này sẽ định nghĩa con người ngay trong cuộc sống của hắn, trong tư cách là nếu không có ý nghĩa này, hắn cũng sẽ không tồn tại nữa. Thay vì hy sinh ý nghĩa đời mình, hắn thà hy sinh ngay chính cuộc đời, khẳng định qua hành động tột cùng ấy rằng hắn chỉ sống vì cái ý nghĩa đó, cái ý nghĩa không phải chỉ được nối thêm vào mà kỳ thực chính là bản chất của đời mình. Trong một số trường hợp, ta chẳng nói một cách chính xác về những kẻ không dám hy sinh rằng «hắn không phải là người» hay sao? - bởi vì nét đặc thù của tồn tại người là thực hiện một ý nghĩa hiện hữu mà nếu không có thì chủ thể cũng chẳng còn nữa, bởi vì hắn chỉ hiện hữu như chủ thể khi cưu mang một ý nghĩa. 
Từ những nhận định hiển nhiên này, chủ nghĩa hiện sinh kết thúc bằng cách tách rời con người khỏi thiên nhiên. Ý nghĩa của hiện hữu được xem như cái tuyệt đối - nghĩa là nó xuất phát từ một hành động tự do không biện minh được mà cũng không thể biện minh, khiến cho hiện thực người hoàn toàn độc lập với mọi hoàn cảnh thực định. Bất kể đang ở trong tình cảnh nào, tôi là tôi như tôi chọn lựa, từ một hành động nguyên khởi đã biến tôi thành kẻ hoàn toàn trách nhiệm  về cuộc đời mình. Chẳng có gì bắt buộc tôi phải chọn ý nghĩa ấy cho cuộc đời tôi cả, cũng không một sự kiện nào có thể đóng vai trò quyết định ở đây, bởi vì với một chọn lựa khác, cũng sự kiện này sẽ mang một ý nghĩa khác và tác động theo chiều hướng khác. Do đó, tôi luôn luôn và hoàn toàn là tôi như tôi chọn lựa, bởi vì chẳng có gì khác trong hiện thể tôi ngoài điều tôi đã chọn lựa.     
Hiển nhiên ý thức về một sự tự do tuyệt đối như thế có lợi điểm đáng kể là xua đi mọi ngần ngại giả dối và khuynh hướng bệnh hoạn của đời sống nội tâm. Nhưng cái gì cho phép tôi khẳng định rằng ý nghĩa ấy đúng thực là ý nghĩa cuộc đời tôi, và nhất là tại sao tôi phải hy sinh đời tôi cho nó? Đấy là những câu hỏi không có giải đáp rõ ràng ở đây, trong khi chắc chắn hy sinh là một sự kiện hiện thực và một khả thể khiến tồn tại của con người mang đặc tính là kiếp người. Triệt tiêu mọi khả năng biện minh để khẳng định một sự tự do tuyệt đối như thế, kỳ thực là hủy bỏ qua đó ngay chính ý niệm chân thực.
Thực ra, một phân tích hiện tượng học trung thực sẽ mang lại những kết quả khác hẳn với nhiều quyết đoán của học thuyết. Tôi không chọn lựa hiện thể tôi, mà kỳ thực hắn đã tự áp đặt cho tôi như đã luôn luôn tồn tại như thế rồi, như cái qua đó tôi không thể không tự nhận biết, bởi vì không có hắn, tôi không còn là tôi nữa. Vào những thời điểm quyết định của cuộc sống, tôi bỗng nhận thấy rằng đời mình đã bị quy định bởi một môi trường, một vài cấu trúc xã hội và một tổ chức vật chất nào đó, rằng nó chỉ có ý nghĩa trong những điều kiện này, rằng tôi phải bảo vệ chúng đến cùng nếu muốn giữ lại cho đời mình cái ý nghĩa ấy. Tôi không hề chọn lựa làm công dân của đất nước này hay thành viên của giai cấp kia, nhưng tôi thuộc về đất nước này và giai cấp kia như sự đã rồi, bởi suốt quãng đời qua, bởi sự phát hiện bất thần của ý thức rằng tất cả những gì tôi tha thiết, những gì mang lại cho đời tôi ý nghĩa và giá trị đều thuộc về các chân trời đã định này, và sẽ tiêu tán nếu đất nước và giai cấp đó một ngày kia biến mất. Khi sự tồn vong của chúng không bị đe doạ, tôi có cảm tưởng dường như mình có tự do quyết định thuộc về những môi trường nào khác. Nhưng khi chúng lâm nguy, tôi mới chợt nhận thức rằng mình chẳng thể chọn lựa gì cả, bởi vì chúng là của tôi, vô phương cứu vãn: chúng quy định cách thức tôi nhìn thấy, cảm nhận mà nếu không có thì sự vật chung quanh cũng không còn như thế. Mọi người sẽ tự tìm thấy mình như đã từng, và tất cả hành động tự do của mỗi người chỉ là tự đảm nhận trọn vẹn thân phận mình trong hiện thể khách quan của nó, bởi vì hành động khác đi là phản bội quãng đời qua và tự dối mình.
Tất nhiên người ta có thể nói đến một sự đổi đời luôn luôn khả thi, và khẳng định về ưu thế của tương lai dường như cho phép các nhà hiện sinh giải phóng con người khỏi mọi sức đè của dữ kiện. Song như thế là quên rằng dự phóng đổi đời chỉ có ý nghĩa nếu tôi cảm nhận nó như của tôi và nhận thấy mình trong ấy, mà điều này chỉ có thể xảy ra khi nó xuất phát từ hiện thể tôi như đã được tích tụ, kết tầng từ bao kinh nghiệm trước. Ngay cả ý nghĩ đổi đời cũng bao hàm ý thức về một sự thất bại, cảm thức rằng những giá trị của phần đời qua đã không được thực hiện thật sự, nghĩa là sự cảm nhận tính không chân thực như đặc tính của cả cấu trúc phần đời qua và nay được diễn đạt trong dự tính đổi mới. Trong mọi trường hợp, đà phóng về tương lai không tự do theo nghĩa là nó thể trôi theo bất kỳ hướng nào «tự do chọn lựa», bởi vì thực ra có một hướng ưu tiên, đấy là cái hướng sẽ thực hiện ý nghĩa cuộc đời thực hiệu của tôi, và tự do chỉ có thể là chấp nhận hoặc từ bỏ định hướng đó, là tự do chọn lựa giữa cái chân thực và cái sai giả.
Dự phóng cái ta chỉ là tiêu đề cho một hệ thống giá trị, nơi thằng tôi phác họa khả năng thực hiện chân thực đời mình. Những giá trị này không đặt ra trong một thế giới tư tưởng tự thân tuyệt đối, hay trong một quyết định chủ quan độc đoán, mà được cảm nhận, thử tháchCông lý, lòng nhân, vẻ đẹp, chân lý... đều không phải là những tinh thể vĩnh cửu hay sản phẩm của ý chí cá nhân: thể chất của chúng biểu lộ trong thực tiễn người, trong quan hệ sống và tương tác giữa con người với thiên nhiên và với đồng loại. Đứa bé phát hiện ra ý nghĩa công lý một lúc nào đó trong cuộc sống thực tiễn, nhân có yêu cầu chia chác hay khi nhìn thấy hậu quả của thiệt hại gây cho tha nhân. Người lớn ít khi còn chỗ cho loại kinh nghiệm ban đầu như thế trong đời, và thường chỉ bằng lòng với sự phỏng chừng trong khuôn khổ của những khái niệm sẵn có, do các hình thái xã hội hiện tồn đặt định. Tuy nhiên, nhiều hoàn cảnh mới vẫn có thể xuất hiện, làm đảo lộn tất cả ý nghĩa của các ý niệm, khiến cho sự áp dụng luật pháp chẳng hạn dường như đi ngược lại với thông kiến và lý trí: tột đỉnh pháp luật, tột cùng bất công [3]. Lúc đó, người ta thấy có nỗ lực thích ứng những quy định của pháp lý vào điều hiển nhiên của cuộc sống, bằng lối suy luận tế nhị của bao án lệ, trừ phi điều ô phẫn lớn đến độ cần phải làm ra luật khác.      trong kinh nghiệm của cuộc đời thực tiễn, nơi các ý niệm, lý tưởng nảy ra với tất cả ý nghĩa chân thực.
Trong những trường hợp như thế, người ta thường chỉ nói rằng khái niệm trừu tượng không bao giờ có thể tóm thâu tất cả sự phong phú của thế giới cụ thể. Nhưng suy tư này chẳng có nghĩa gì cả, bởi vì nếu cái trừu tượng là đúng, thì có lẽ cũng đến phải hy sinh cả sự phong phú của hiện thực cho nó. Thật ra, vấn đề không phải là sự thích nghi lý thuyết vào thực tiễn - điều hoàn toàn không thể hiểu nổi; sự thực là toàn bộ ý nghĩa của lý thuyết đều nằm nơi thực tiễn, mà qua tất cả những thí dụ ta vừa đưa ra, thì đấy chính là cái đang tự phơi bày trong tồn tại thực hiệu chứ không phải chi khác. Chân lý hiện hình trong quá trình xác minh, và các mệnh đề khoa học phải được thế giới cuộc sống xác nhận.  Không phải chỉ đơn giản nhằm phòng ngừa rủi ro sai lầm, vốn dĩ nội tại trong điều kiện yếu kém của con người, mà bởi vì ngay chính ý niệm chân lý cũng quy về những hiển nhiên nảy ra từ thực tiễn: cái đúng là cái được nghiệm sinh chân thực trong sinh hoạt hiện thực.    
Tất nhiên, ta không có ý định rơi vào thứ triết lý thực dụng, muốn giản lược tất cả mọi giá trị vào lợi ích, mà đúng ra là muốn phát hiện mỗi giá trị trong thể chất đặc thù của nó, trong nội dung là ý nghĩa tối hậu mà nó chuyên chở chỉ có thể là chính cái ý nghĩa nó đang cưu mang trong thực tiễn thực hiệu. Đạo lý, luật pháp, nghệ thuật, tôn giáo... chỉ có nghĩa bởi vì đời người chuyên chở những ý nghĩa đạo đức, pháp luật, mỹ thuật, tín ngưỡng... trong vận động bột phát của nó. Tất cả vai trò của các bộ môn đã hình thành là diễn tả một cách bền vững và chính xác những ý nghĩa đã xuất hiện ở tình trạng tiền lập lờ mờ trong cuộc sống, và tất cả phần chân lý của chúng là lại dẫn về những ý nghĩa nghiệm trải đó. Hệ thống đạo lý và pháp lý, tác phẩm nghệ thuật, giáo điều và lễ nghi tôn giáo chỉ làm sáng tỏ bằng những thực hiện thường trực loại trực quan đạo đức, pháp luật, mỹ thuật, tôn giáo đã xuất hiện trong kinh nghiệm sống, khi tôi sống một cuộc đời thực sự là người, bằng tất cả lý trí và chân thực.
4
Thực tiễn chỉ là chính những sinh hoạt mà chúng ta tiến hành trên thế gian này, trong tư cách đó, nền tảng của nó hiển nhiên phải được truy tìm trong những điều kiện vật chất. Thế giới cuộc sống, cái cõi trần nơi chúng ta thảy đều đang sống, trước hết là một thế giới vật chất, không phải theo nghĩa là nó chỉ thu về phần vật lý như thể chất, mà bởi vì thực thể vật chất bao gồm tất cả mọi ý nghĩa đời sống như cuộc sống tại thế. Thời cứ mang tính vật chất là hạ tầng cơ sở của cuộc sống con người, như nền tảng tối hậu của tất cả mọi ý nghĩa con người đặc thù.
Nói cách khác, mọi hệ tư tưởng rốt cuộc đều quy về điều kiện vật chất của cuộc sống, luôn luôn được định nghĩa bởi cấu trúc kinh tế. Cái kết quả trên không được đạt đến và phát biểu trong mục đích hạ thấp những giá trị thuộc lãnh vực tư tưởng, mà nhằm rọi sáng ý nghĩa của loại hiện thể này. Ở mỗi giai đoạn phát triển của lực lượng sản xuất, sinh hoạt con người được tổ chức một cách bộc phát dựa trên điều kiện vật chất, rồi một tập hợp giá trị thoát thai từ thực tiễn nghiệm sinh đã định nên những quan hệ sản xuất ấy, để tự thực hiện trong những kiến trúc tư tưởng, và qua đó mang lại cho thế giới này cái ý nghĩa nhân sinh của nó. Ở đây, sự tái biểu hiện các giá trị tinh thần trên nền tảng hiện thực của đời sống định nghĩa chân lý trong nghĩa lịch sử: với tư cách là những giá trị đã được thực hiện trọn vẹn trong giới hạn của một thời đại, tất nhiên chúng cũng sẽ tiêu vong trong dòng vận động của lực lượng sản xuất.
Những giá trị đặc thù của thời phong kiến ngày nay đều có vẻ khôi hài và lố bịch so với các bước tiến của «tinh thần tư bản», đặc biệt là tất cả những gì cô đọng trong ý niệm «tinh thần hiệp sĩ». Đâu vì thế mà chúng không phải là những giá trị chân thực một thời, khi mọi người đều cảm thấy nhu cầu tìm người che chở bằng cách nối kết những liên hệ cá nhân, nhằm đối phó với tình trạng bất an khắp nơi vì nạn chinh chiến xâm lấn triền miên xảy ra từ sau sự sụp đổ do mâu thuẫn nội bộ của nền kinh tế và đế quốc La Mã. Trong sự thiếu vắng một tổ chức thường xuyên và rộng khắp, quan hệ giữa nông nô và chư hầu với lãnh chúa đã xuất hiện như giải đáp thích đáng cho điều kiện sống vật chất nói trên; từ đấy tất yếu phải nảy ra các giá trị như trung thành và tận tâm với chủ một bên, song song với những giá trị tương quan tương liên như dũng cảm, danh dự, hào hiệp phía bên kia, để dần dà cống hiến cho những người mà chức năng là che chở kẻ yếu và bảo vệ mẹ goá con côi một lý tưởng.
Khi nào điều kiện sống vật chất chưa tiến hoá đủ để cho phép xây dựng một tổ chức xã hội bền vững hơn, sự lộng hành ghê tởm của giới quý tộc phong kiến cùng tình trạng tranh chiến liên miên phí phạm bao tài nguyên quốc gia mà nó tiến hành không thể gây tổn thương cho tinh thần hiệp sĩ. Khoảng trống lý tưởng chỉ xuất hiện khi sự phát triển của đô thị, thương nghiệp và kỹ nghệ, mang đến những hình thức tổ chức mới, qua đó các giá trị đặc thù của nếp sống tư sản cũng ló dạng: cần lao, tiết kiệm, ý thức trật tự và hợp pháp. Với sự tăng trưởng của nền sản xuất trung cổ và bước chuyển sang giai đoạn tư bản chủ nghĩa, giai cấp mới tự xác định như phương thức tồn tại mới. Hiển nhiên là hệ thống giá trị của nó biểu dương ý nghĩa đích thực của thời đại, cái làm cho cuộc sống này đáng sống. Ưu thế của nó không chỉ nổi bật về mặt hiệu lực vật chất, mà ngay cả về mặt chân lý quan niệm. Với phương thức sản xuất tư bản, tinh thần cá nhân, ý thức sáng kiến và tự do cũng phát triển. Mọi kiến trúc tư tưởng của thế giới phong kiến đều bị phê phán không thương tiếc và thay thế bằng những hệ thống không công nhận uy quyền nào khác ngoài lý trí. Từ thời trung cổ suy tàn cho đến thế kỷ 19, giai cấp tư sản đã đấu tranh không ngừng nghỉ trong mọi lãnh vực: chính trị, tôn giáo, khoa học, triết học. Nó nuôi dưỡng cả một hệ tư tưởng làm phong trào nhằm giải phóng tư tưởng hiện đại; tất cả mọi ý nghĩa của nhân sinh đều bị lôi vào cuộc chiến. Sự toàn thắng của nó trên trật tự phong kiến là chiến thắng của một tồn tại trên một tồn tại khác.                
5
Đời người là một quá trình biện chứng: ở đây, tính chất thú vật bị siêu vượt, những hành vi mà ta thực hiện không còn mang ý nghĩa sinh học nữa, mà đích  xác là ý nghĩa nhân văn. Nói thế để thấy ngay rằng giản lược lịch sử vào cuộc đấu tranh quyền lợi đơn thuần là không chính đáng đến mức nào: chỉ đích thực là lịch sử cái gì mang một ý nghĩa mà ta có thể luôn luôn sống lại, thứ ý nghĩa đã đem đến cho các thời cứ nó được thực hiện một chỗ đứng trong lịch sử. Nhưng nền tảng chân lý của những giá trị mà mỗi cá nhân nhắm đến, đôi khi bằng sự hy sinh cả đời mình nếu cần, lại nằm trong thực tiễn cuộc sống. Nảy ra từ những hoàn cảnh hiện thực, chúng tất yếu phải diễn tả cấu trúc tổng quát của cái thế giới đã đẻ ra các hoàn cảnh đó, mà cấu trúc này thì luôn luôn bị quy định bởi những quan hệ kinh tế. 
Sự thiết lập các giá trị tư tưởng trên cơ sở điều kiện sống vật chất hoàn thành thực thể của tồn tại trong nghĩa nhân văn. Vận động lịch sử chỉ là sự chuyển biến của một chuỗi những tạo lập như vậy, trong nội dung là sự phát triển của lực lượng sản xuất sẽ làm xuất hiện quan hệ sản xuất mới, được biểu hiện trong những hệ thống giá trị mới và xua đuổi tàn nhẫn các hình thái cũ lui về quá khứ. Dựa trên một thời cứ của đời sống kinh tế, mỗi phương thức tồn tại đặt định  một giai cấp xã hội, và cuộc đấu tranh giai cấp hiểu theo nghĩa toàn diện của nó chính là quá trình biện chứng qua đó các tồn tại được thiết lập trong dòng sống hiện tại đã hủy diệt những tồn tại khác không còn được xây dựng trên bất kỳ cơ sở thực hiệu nào. Lịch sử không đơn giản là dòng vận động của quan hệ kinh tế, mà chính là sự chuyển biến của các tồn tại đang tự hoàn tất trong loại quan hệ đó: một cuộc đấu tranh giai cấp vĩ đại.
Nếu đấu tranh giai cấp chỉ là một cuộc xung đột về quyền lợi vật chất, chúng ta sẽ không thể hiểu nổi những chương hồi của nó khi bao cá nhân chấp nhận hy sinh cho các giá trị tinh thần với lòng thành thật không thể nghi ngờ. Chắc chắn là mỗi người đều bảo vệ quyền lợi giai cấp của mình, và dưới quan điểm chiến lược hay chiến thuật đấu tranh chính trị, đúng là giản tiện hơn nếu ta lý luận như thể đây chỉ là sự tranh giành lợi quyền. Như thế có thể tránh được rủi ro nhầm lẫn, nhưng kỳ thực là ta đã bỏ qua bản chất của vấn đề: nếu cá nhân hy sinh cho giai cấp của hắn, không phải vì lòng vị kỷ đã đành, song cũng chắc chắn không phải vì một bản năng tối tăm nào không thể hiểu nổi về mặt ý niệm trong lĩnh vực nhân sinh. Cá nhân chấp nhận hy sinh chính là vì hắn sống cho một ý nghĩa nào đấy mà tính chân thực được đặt trên trực quan về cuộc sống thực tiễn của hắn, nghĩa là loại trực giác đã nảy sinh từ bên trong một chân trời do quyền lợi giai cấp đặt định.văn minh nhân loại, và sự bảo vệ chúng có giá trị của một nghĩa vụ đạo lý bất khả kháng.             Tất cả ý nghĩa cuộc sống trong thâm sâu của nghiệm sinh, tất cả mọi giá trị mà một cá nhân có khả năng thực hiện chỉ hiện ra với hắn bên trong một phương thức tồn tại nào đó, do thực tiễn đặc thù của giai cấp mà hắn tùy thuộc đặt để. Lúc đó, đối với hắn, điều kiện vật chất của tồn tại giai cấp có vẻ như thiết yếu cho
Nhưng nếu đấu tranh giai cấp là một cuộc chiến toàn diện có khả năng động viên tất cả mọi ý nghĩa nhân sinh, diễn biến của nó vẫn bị quy định bởi vận động sản xuất nếu phân tích đến cùng. Cá nhân chỉ khẳng định nội dung giai cấp của mình, và vai trò của hắn chỉ có ý nghĩa tùy theo sự chuyển biến thực hiệu của giai cấp từ đấy hắn xuất thân. Hẳn có người sẽ nói rằng sự «thay đổi giai cấp» vẫn luôn luôn là một khả thể: nhà tư sản có thể đứng về phía giai cấp vô sản chẳng hạn. Thật ra, sự kiện một số thành viên từ bỏ giai cấp của mình tự nó đã là một hiện tượng đặc trưng của tình hình giai cấp này. Vào thế kỷ 18, khi chế độ phong kiến đã mất hết ý nghĩa trước mắt mọi người, không ít nhà quý tộc đã bước sang hàng ngũ tư sản, đánh dấu sự tan rã của chính giai cấp mình. Nỗi chán chường theo sau các thành tựu ban đầu của cuộc Cách Mạng Pháp, cùng với những hỗn loạn ngày càng to rộng trong xã hội tư sản đã khiến một số trí thức từ bỏ giai cấp mà nay họ nhìn thấy dấu hiệu suy tàn. Kẻ trùm chăn trong loại hoài niệm lãng mạn về quá khứ, người nỗ lực góp sức cho cuộc cách mạng vô sản. Chuyện thành viên của một giai cấp đào ngũ chỉ là một chương hồi đặc biệt có ý nghĩa trong cuộc đấu tranh giai cấp.
Điều đáng để ý nữa là nhận định rằng các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học chưa bao giờ trông cậy vào loại luận cứ lý thuyết để mộ quân cho chính nghĩa của giai cấp vô sản. Người ta có thể nói rằng thế giới tư sản là một thế giới tha hoá, rằng ở đó cả nhà tư sản lẫn người vô sản đều bị huyễn hoặc, lừa phỉnh. Thứ luận cứ này chỉ có thể mang tới một sự dấn thân cửa miệng, và kinh nghiệm cho ta thấy với một sự đều đặn đáng kể, rằng nó cũng sẽ chỉ dẫn đến sự phản bội  lúc phải hành động quyết liệt. Một giá trị chỉ được đảm nhận thực hiệu nếu nó nảy ra từ hoàn cảnh thực hiệu. Giai cấp vô sản sẽ được tăng cường, không phải nhờ những cuộc đàm luận trí thức, mà qua một sự kiện khách quan thiết yếu cho sự tiến hoá của xã hội tư bản : sự vô sản hoá các giai tầng trung lưu. 
Sự tan rã của tầng lớp tiểu tư sản tăng tốc với bước chuyển từ chế độ tư bản sang chủ nghĩa đế quốc, khi sự tập trung tư bản làm cho sáng kiến cá nhân và doanh nghiệp tư nhân mất hết ý nghĩa. Xã hội phân cực: một bên, những doanh thương nhân, tuy nhỏ vẫn có khả năng thích nghi vào điều kiện tồn tại mới; bên kia, khối trí thức ăn lương, tuy vai trò ngày càng lớn trong trong sản xuất, vẫn khách quan bị đẩy xuống điều kiện vô sản. Sự phát triển của chủ nghĩa chủ quan và chủ nghĩa phi lý dưới mọi hình thức hiện đại chính là biểu hiện ý thức trực tiếp của một giai cấp đã mất hết nền tảng nghiệm sinh khách quan. Với tầng lớp này, chủ nghĩa Marx hiện ra không phải như sự phê phán một hệ tư tưởng đã rã rời từ bên trong, mà như một học thuyết tích cực có khả năng giải đáp các nan đề của ý niệm tồn tại bằng cách mang lại cho tồn tại thực hiệu phần ý nghĩa của chân lý.             






CHÚ THÍCH

[1] Phê phán giấc ngủ giáo điều của Đảng Cộng Sản Pháp, Sartre viết năm 1956: «Đã đến lúc [tư duy vô sản] phải lật ngược các triết thuyết tư sản cuối cùng, giải thích nó, phá vỡ cái vỏ ngoài để sáp nhập phần tinh túy bên trong. Còn chờ đợi gì? Người duy nhất ở Pháp đã thử đấu tranh với đối phương trên lãnh địa của nó là Trần Đức Thảo, đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam; người duy nhất ở Âu châu đã thử giải thích nguyên nhân của các trào lưu tư tưởng hiện đại là Lukacs, nhà cộng sản Hung mà tác phẩm mới nhất cũng chưa được phiên dịch...» (Jean-Paul Sartre. Le Réformisme et les Fétiches. Les Temps Modernes, số 122, 1956, tr. 1153-1164). Nói về Sartre với Phan Huy Đường, Trần Đức Thảo cho rằng: «Sartre là nhà triết học duy nhất đã đặt ra những câu hỏi đáng đặt» (Phan Huy Đường. Trần Đức Thảo, một kiếp người. Địa chỉ truy cập: http://amvc.free.fr)
[2] Descartes phân biệt hai thực thể: vật hữu tri (res cogitans) và vật hữu hình (res corporex). Thuộc tính chính của vật hữu tri là tư duy, của vật hữu hình là quảng tính hay hậu lượng (étendue). Vì tất cả những phẩm chất khác ở mỗi thực thể đều là thứ yếu nên gọi là phẩm chất hàng hai. Từ sau Locke, phẩm chất hàng một chỉ những thuộc tính khách quan gắn liền với vật thể (quảng tính, hình thể, vận động), trong khi phẩm chất hàng hai chỉ tồn tại nhờ và cho chủ thể nhận thức (màu sắc, mùi, vị...).  
[3] Summum jus, summa injuria = comble de justice, comble d’injustice: người ta có thể gây ra nhiều bất công khi áp dụng luật pháp một cách quá khắt khe.

Gặp Họa Trùng Tang - Phần 6

 Phần 6: Sự Hy Sinh Của Chó Mực & Bí Ẩn Trùng Tang Hôm nọ kể tới đoạn tự dưng nghe con chó mực nó tru hú thấy mà gớm, mọi người và em mớ...